Hiển thị các bài đăng có nhãn Bốn chân lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bốn chân lý. Hiển thị tất cả bài đăng

10 tháng 4, 2013

Bát Chánh Đạo


Bát Chánh Đạo chỉ là một phần trong giáo lý của Đức Phật. Chỉ cần những cố gắng nhỏ để áp dụng tám bước này vào đời sống cũng sẽ mang đến cho ta hạnh phúc.
Qua bài Chuyển Pháp Luân của Đức Phật giảng tại vườn nai cho năm anh em ông Kiều Trần Như nghe. Trong đó Bát Chánh Đạo là chủ đề đầu tiên mà Đức Phật mở bài. Từ sự quan sát cuộc đời của mình qua những kinh nghiêm sống trong hai giai đoạn : Hưởng thụ lợi lạc, đam mê ái dục, danh lợi, quyền lực, trong cung điện và sáu năm tu khổ hạnh mà không thấy kết quả gì.
Đức Phật nhận ra rằng : Mình là người tu hành đang đi tìm Đạo, đừng để mình lạc vào trong các quan điểm, thái quá hay bất cập, giả định của cuộc đời, sau cùng không có kết quả khả quan, để chứng đạt thành qủa duy nhứt muốn tìm. Từ đó, Ngài tự tu tập, giới, tâm, dựa vào kinh nghiệm bản thân và đã khám phá ra con đường Trung đạo (Majjhimà Patipadà).
Majjhimà tiếng pali có nghĩa là, giữa, ở giữa. Patipadà là thực hành, con đường. Việt dịch là con đường ở giữa, Hán Việt gọi là Trung Đạo.
Ý nghĩa chính của con đường Trung đạo là sự thức tỉnh của Đức Phật, qua sự so sánh trong hai kinh nghiệm từng trãi trong đời của Ngài và rút ra một kết luận, để khuyên người đang đi tìm Đạo : Đắm mình trong dục lạc dẫn đến nguy hại, là một điểm nên tránh. Tự hành hạ mình bằng các hình thức tu khổ hạnh nghiêm khắc, dẫn đến đau khổ, và nguy hại là một điểm không bao giờ nên làm.
Đức Phật lấy cuộc đời của mình làm tâm điểm để tu tập, qua sự bắt đầu từ trong cuộc sống để khai triển trong nhiều khía cạnh khác nhau để giúp cho con người đang đi tìm Đạo có cái nhìn toàn bộ, từ đó mới có nền tảng căn bản dễ dàng trong việc tu đạo hay tìm một cách sống thích hợp cho mình và cho những người chung quanh.
Đức Phật cho thấy cuộc sống có bao giờ hoàn hảo, bằng phẳng với bất cứ ai. Mỗi người có một nỗi niềm, tâm tư, khó khăn, trở ngại riêng và những nỗi đau không ai giống ai. Bởi vì, bản chất con người tồn tại trong xã hội đều có khát vọng tìm cầu vật chất. Cuộc sống mang đến cho con người tất cả những gì nó muốn, chứ không phải những gì mà con người muốn và cho dù có muốn hay không, con người vẫn phải đón nhận những gì mà nó đưa đến cho mình, bằng thái độ lựa chọn Gượng ép hay Cởi mở để đón nhận.
Khi những thử thách của cuộc sống làm cho con người đau khổ, thì họ sẽ tìm về những người thân, những người bạn làm nơi an ủi. Đây cũng là hình thức để làm vơi đi những phiền não trong khoảnh khắc nhất thời. Nhưng nó sẽ trở thành một cách nuôi dưỡng, bằng ý chí kiên định, bằng nghị lực kiên định, để giúp con người cảm thấy có thể tiếp tục bước về phía trước.
Đức Phật có tầm nhìn và sự hiểu biết rộng, cho nên con đường Trung Đạo mà Ngài tìm ra là phương pháp diệt Khổ, để đưa con người đến sự an vui thanh tịnh trong cuộc sống hiện thời.
Con đường Trung Đạo này còn được gọi là Bát Chánh Đạo và tiếng pali viết Ariyo atthamgiko maggo. Ariyo có nghĩa : cao quý, cao thượng trong cụm từ này. Atthamgiko là tám. Maggo, con đường. Bát Chánh Đạo gồm có tám yếu tố quan trọng để tu tập như sau :
Chính kiến, tiếng pali viết là Sammàditthi : hiểu biết đúng đắng.
Chính tư duy, tiếng pali viết là Sammàsankappo : Suy nghĩ chân chính.
Chính nghiệp, tiếng pali viết là Sammàkammanto : Hành động chân chính không làm viêc giả dối.
Chính ngữ, tiếng pali viết là Sammàvàcà : lời nói chân chính trung thực.
Chính mệnh, tiếng pali viết là Sama àjìvo : Sống chân chính, không tham lam, vụ lợi xa rời nhân nghĩa.
Chính tinh tiến, tiếng pali viết là Samàvàyamo : Cố gắng nổ lực chân chính.
Chính niệm, tiếng pali viết là Sammàsati : Suy niệm chân chính.
Chính định, tiếng pali viết là Sammàsamàdhi : kiên định tập trung tâm tư vào con đường chân chính không để bất cứ điều gì lai chuyển làm thoái chí, phân tâm.
Chính kiến, chính tư duy thuộc về trí tuệ | Chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh thuộc về giới luật | Chính tinh tiến, chính niệm, chính định thuộc về định.
Qua phần tỉnh lược về ý nghĩa của tám yếu tố trên. Dưới đây là chi tiết của từng yếu tố.
Tám yếu tố của Bát Chánh Đạo không phải là một tiến trình sắp xếp theo thứ tự nhất định, như là yếu tố này phải đứng trước yếu tố kia. Những yếu tố này có thể được diễn tả một cách trung lập, giống như một con sông lớn được hình thành từ những con suối nhỏ hợp lại và mỗi con suối nhỏ đều có tên và nhiệm vụ hoạt động riêng của chính nó. Nhờ sự tụ hợp góp sức của những con suối này mà con sông lớn mới tồn tại.
Trên phương diện tu tập thiết thực, tám yếu tố này được chia ra làm ba nhóm :
Nhóm giới đức, tiếng pali viết là silakkhandha , được tạo thành bởi chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng.
Nhóm tâm định, tiếng pali viết là samadhikkhandha, được tạo thành bởi chánh tin tấn, chánh niệm và chánh định.
Nhóm trí tuệ, tiếng pali viết là paññakkhandha, được tạo thành bởi chánh tri kiến và chánh tư duy.
Đường hướng chung của Bát Chánh Đạo qua ba nhóm Giới, Định, Huệ, là mục tiêu dẫn đến việc giải thoát ra khỏi sự khổ đau, bằng sự trừ tiệt vô minh. Do đó trí tuệ là một phương tiện tu tập, hầu giúp cho con người mở mang Tâm trí, để nhìn thấy và phán xét một cách minh bạch tất cả mọi hiện tượng và thấu hiểu một cách tường tận về bản tính chân thật của sự vật.
Đây là sự hiểu biết toàn diện và là một tính năng thức tỉnh để đưa con người thoát ra khỏi : mê lầm, ích kỷ, những chủ nghĩa tôn thờ danh lợi cá nhân… những cặn bã vô minh, trong cuộc sống hằng ngày.
Đức Phật nói rằng : chỉ có chính mình mới giải thoát được cho mình ra khỏi những nỗi thống khổ. Con người phải làm chủ lấy vận mạng của mình. Vì mê lầm mà chính mình tự tạo ra một thần linh, với niềm hy vọng được sự cứu rồi hay phù hộ cho mình được thoát khỏi cảnh lầm than, đau khổ mà do chính mình đã tạo nên. Cuối cùng mình phải làm nô lệ cho thần vị thần linh ảo tưởng này mà vận mạng của do chính mình tạo ra vẫn không bao giờ thay đổi.
Trí tuệ, phạn ngữ là Prajñā प्रज्ञा, Pali là pañña. Trí tuệ còn gọi là Tuệ hay Trí huệ. Trí là quán thấy, Huệ là hiểu rõ. Trong Phật học Trí tuệ là một khái niệm rất quan trọng và có nhiều cách giải thích rất đa dạng tùy theo các tông phái.
Đặc tính của Trí tuệ là trong sáng, rạng ngời. Vai trò của Trí tuệ là nó có khả năng giúp, nhìn thấy hay quán nhận được bản thể đích thực và tối hậu của mọi hiện tượng và thực hiện được tất cả những gì nên làm và cần phải làm. Ngoài ra Trí tuệ cũng là một phương cách tu tập để giúp cho một vị Bồ tát trở thành một vị Phật.
Trí tuệ hoàn toàn khác biệt với trí thông minh thông thường (Pali là vijnana). Trí thông minh thông thường là sự tượng trưng cho quá trình vận hành bình thường của tri thức.
Trí tuệ không phải là một sự vận hành bình thường của tri thức mà là kết quả của một sự rèn luyện chuyên cần của tâm thức.
Trong Bát Chính Đạo, Trí tuệ gọi là Chính kiến, tức là nhìn thấy hiểu biết đúng đắng được dịch từ chữ Pali Sammàditthi. Sammā có nghĩa là đúng, hợp lý. Diṭṭhi là thấy, nhìn thấy, có động từ căn là √ dis. Micchāditthi là tà kiến phản nghĩa của Sammàditthi.
Như vậy Tà kiến là gì ? Tà kiến là cái nhìn sai lệch về sự thật rồi tạo thành những kiến thức sai lầm, những sự hiểu biết không căn cứ, khiến cho con người đi lạc vào tà đạo hay dẫn dắt con người, đến chỗ tranh chấp, đấu tranh hơn thua, thành kiến bảo thủ, phiền não khổ đau. Thí dụ như Mê tín là những tin tưởng mù quáng, suy đoán tưởng tượng, không căn cứ, khiến cho con người, mất hết lý trí, tiêu mòn nghị lực, không sức phán đoán, không trí thông minh và có thể làm hư hại, tan nát cả hạnh phúc gia đình mà không thể lường trước được, trong cuộc sống hằng ngày, của tất cả mọi người. Điều này đã pha trộn lâu đời và hiện đang lẫn lộn, trong các sinh hoạt Phật giáo.
Qua phần tỉnh lược những hình thức tà kiến trên, thì nguyên nhân tạo ra chúng là do từ sự : Thấy không có xác thật, bởi vì…  | Thấy không xác thật, bởi vì…  | Nhận thấy không xác thật, bởi vì…   | Nhận thấy không xác thật, bởi vì…   …   Cho nên hãy bình tâm, suy gẫm, nhiều lần trước khi quyết theo hay làm một việc gì. Điều này trong Phật học đã cho thấy ý nghĩa của Trí tuệ là sự rèn bằng thời gian để đạt đến sự hiểu biết hoàn toàn hầu đem lại thành qủa tốt cho những gì mình đang muốn thực hiện.
Theo thuật ngữ Pali Micchāditthi là phản nghĩa của Sammàditthi và Sammàditthi có nghĩa là nhìn thấy hiểu biết đúng đắng. Như vậy, ở đây, cái gì làm chủ để cho sự nhìn thấy hiểu biết đúng đắng này ? 
Đức Phật đã lấy cuộc đời của mình làm tâm điểm để tu tập và khai triển trong nhiều khía cạnh khác nhau để giúp cho con người đang đi tìm Đạo. Dựa vào kinh nghiệm bản thân qua sự nhìn thấy, hiểu biết một cách tận tường, để so sánh và kết luận cho ý nghĩa về con đường Trung Đạo mà Ngài đã tìm ra, dựa trên hai điểm có thật, trong cuộc sống của con người và xã hội. Đó là : Đắm mình trong dục lạc dẫn đến nguy hại, là một điểm nên tránh. Tự hành hạ mình bằng các hình thức tu khổ hạnh nghiêm khắc, dẫn đến đau khổ, và nguy hại là một điểm không bao giờ nên làm.
Từ ý nghĩa trong sáng này mà Ngài đã giúp cho, biết bao nhiêu người tu học biết rõ thế nào về giá trị quan trọng của trí tuệ, trong lúc họ còn là những người đang tìm học đạo hay những người chưa biết gì về đạo, sẽ tìm đến đạo một cách thực tế và dễ dàng hơn.
Thí dụ như Trí tuệ được xem như là Chánh kiến trong Bát Chánh Đạo và khi dùng Chánh kiến để nhìn Tứ Diệu đế, thì nó được hiểu như là Chánh đế, bởi vì, nhìn thấy Khổ là khổ, Tập là tập, Diệt là diệt, Đạo là đạo, bằng sự hiểu biết am tường về bản tính chân thật của từng yếu tố.
Tóm lại Chánh kiến là sự thấy biết mọi sự đúng như thật và chính Tứ diệu đế mới giải thích sự vật đúng như thật. Do đó mới có câu trong Bát Chánh Đạo có Tứ Diệu Đế và ngược lại.
Theo Phật học có hai loại hiểu biết :
Hiểu biết thông thường của con người là kiến thức tích lũy bằng trí nhớ, dựa trên một số dữ kiện tiếp thu không sâu sắc và  còn được gọi là Hiểu biết tùy thuộc, phạn ngữ viết là,  अनुबोध,anubodha, thuộc về nam tính, có nghĩa là, nhớ, tự nhớ, thấu hiểu, viết từ động từ अनुबुध् anubudh [anu-budh_1] ở dạng nguyên thủy nhóm một.
Sự hiểu biết sâu sắc thật sự gọi là thâm nhập, nằm lòng, pali viết là pativedha. Sự hiểu này là kết qủa của việc nghiên cứu học hỏi (pali, Pariyatti) và việc thực hành (pali, patipatti) một cách chuyên cần nghiêm túc, để thấy biết sự vật trong bản chất của nó mà không cần phải nhớ đến tên hay cách cấu tạo của nó.
Sự thâm nhập này chỉ có thể có, khi tâm đã sạch mọi ô nhiễm và đã hoàn toàn phát triển nhờ thiền định. Đây cũng là lý do tại sao Chánh kiến được sắp trong nhóm Huệ của Bát Chánh Đạo.
Chánh kiến là một lối sống mà người đang học Phật, nên thực hành và phát triển mỗi ngày, bằng sự cố gắng từ bỏ những sai lầm, để gặt hái những lợi ích cho việc thành công trong nhiều lãnh vực của cuộc sống.
Chánh kiến là một tự kỷ luật trong thân, do đó, từ lời nói và ý nghĩ, tự phát triển và tự thanh lọc. Chánh kiến không liên quan gì đến đức tin, cầu nguyện, thờ phụng hay nghi lễ.
Chánh kiến là một con đường dẫn đến tự do hoàn toàn, hạnh phúc và bình an nhờ sự hoàn thiện về đạo đức, tâm linh và trí thức qua sự tỉnh thức bên trong của mỗi người.
Chánh kiến cũng là Con Ðường thực sự để giúp người đang học Phật, dần dần, tự tìm ra Đức Phật bên trong của chính mình.
Trong khi Chánh kiến là sự thấy biết mọi sự đúng như thật ,thì Chánh tư duy là sự sử dụng sự thật qua dòng suy nghĩ đích thực về sự thật để chuẩn bị đi vào từng bước thực hành, giống như, nhờ thấy Khổ và có Khổ mà Đức Phật tìm đường diệt Khổ.

Đây cũng là sự chứng nghiệm từ trong cuộc đời bằng, thấy, biết sử dụng sự thật cái khổ của con người qua dòng suy nghĩ đích thực mà Đức Phật đã lập ra đạo của Ngài, rồi từ đó Đạo Phật đi vào cuộc đời không ngoài việc giải thoát Khổ cho con người.
Chánh tư duy, pali viết là Samma samkappa. Samma có nghĩa là đúng, hợp lý. Samkappa đồng nghĩa với Vitakka : tầm, tìm, đặt lên.
Chánh tư duy là tư tưởng chân chính quan trọng để giúp con người dứt bỏ tâm tham ái, tâm sân hận và tâm si mê.
Chánh tư duy cũng là một hình thức của Chánh ngữ, bởi vì tư duy là loại ngôn ngữ thầm ở trong tâm, như con tằm tự giam mình trong kén, lúc nào cũng tự nói mình nghe. Nếu có Chánh tư duy thì tìm (Vitakka) và duy trì (Vichara) sẽ soi sáng cho ngôn ngữ và cho hành động và tăng thêm lợi ích  cho Chánh kiến.
Chánh Tư Duy gồm có ba yếu tố chính :
Nekkhamma : Xuất gia, Từ bỏ, loại trừ,
Avyapada : Tâm từ ái, thiện chí , hay hảo tâm, nghịch nghĩa với thù hận, ác ý, ganh ghét.
Avihimsa :  Không hung bạo, hay ôn hòa, hiền lương, bi mẫn, nghịch nghĩa với tính hung bạo, tàn ác.
Chánh tư duy là suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh, tư tưởng đúng với lẽ phải để mang lợi ích thiết thực vào đời sống xã hội.
Những đức tánh xấu và những tư tưởng thấp hèn là những phẩm chất luôn luôn ngầm chứa bên trong của con người. Ngày nào còn tham, sân, si, thì ngày đó, những chất độc này còn có thể trỗi dậy khó lường được.
Do đó sự từ bỏ cũng là một trong những phương cách giải độc cho lòng tham và triệu chứng thèm muốn của nó. 
Chánh tư duy là suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh ở chỗ loại trừ dứt khoát, chứ không đè nén những trạng thái tâm bất thiện và thay thế bằng những trạng thái tâm thiện.
Chánh tư duy là suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh ở chỗ mở lòng nhân ái và từ bi để có thể đạt được một hạnh phúc vô điều kiện trong sự từ bỏ.
Chánh tư duy cùng với Chánh kiến giúp người học Phật thường xét nghĩ đạo lý, suy tìm thể tánh nhiệm mầu của Từ, Bi, Hỷ, Xả, biết xét những hành vi lầm lỗi để sám hối,  biết suy xét vô minh và nguyên nhân đau khổ là nguồn gốc của tội ác và tìm phương pháp đúng đắn để tu hành, hầu giải thoát cho mình và cho những người chung quanh.

Nếu mọi người đều hiểu được quy luật này, thì có lẽ không còn cái tham của người giàu và lòng ganh tị của người nghèo. Kết quả sẽ là một sự chia sẽ tình thương có lợi cho nhân loại qua sự bình đẳng.
Tóm lại Chánh tư duy và Chánh kiến là hai yếu tố quan trọng trong phần Huệ của Bát Chánh Đạo. Bởi vì, chúng có thể đặt thẳng đứng lên những gì đã bị đảo ngược và để lộ những gì đang bị ẩn khuất trong bóng tối.
Nhóm Giới, tiếng pali viết là silakkhandha được tạo thành bởi chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Giới phạn ngữ gọi śīla, pali viết là Sīla có động từ gốc là √sil, có nghĩa : phục vụ, thực hành, quy luật, kỷ cương. Giới trong Phật học không phải là những điều luật hay những quy tắc... bắt buộc con người phải tuân theo một cách chặt chẽ như trong : nhà trường, cơ quan, ban ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội, lớn, nhỏ khác nhau…
Giới ở đây là sự hướng dẫn của Ðức Phật khuyên dạy cho những người học Phật, sau khi ngài Diệt Độ, bằng những bổn phận phải làm (cãritta) và những điều nên tránh (vãritta) để khép mình vào nếp sống kỷ cương qua phát triển trí tuệ, để mang lợi ích cho mình và cho người.
Ðức Phật không ép buộc và không hứa hẹn với những người học Phật, sẽ ban thưởng người làm thiện và trừng phạt người gây tội lỗi. Điều nên cần hiểu rõ là : mỗi người phải chịu đau khổ vì những hành động sai lầm của chính mình và thọ hưởng những lợi ích do hành động chân chánh của mình.
Giới của Đức Phật là những nguyên tắc rèn luyện bản thân con người qua nhiều phương diện khác nhau như : Đạo đức và phong cách cư xử về đạo đức.
Phương diện đạo đức là sự tu tập thân, khẩu, ý, thanh tịnh để diệt trừ  tham, sân, si, ở nội tâm, đưa đến sự an lạc giải thoát cho chính mình. Bất cứ xã hội nào muốn phát triển và tồn tại lâu dài, thì phải cần có những con người hoàn hảo về ý thức đạo đức cá nhân để làm nền tảng căn bản.
Phong cách cư xử về đạo đức là sống trong sự thực hành Từ, Bi, Hỷ, Xả, để cho con người biết qúy mến, thương yêu, thông cảm, đoàn kết và giúp đở nhau trong mọi tình huống của xã hội, nhằm mang lại lợi ích, an vui, hạnh phúc thật sự cho mình và cho người.
Giới là những điều kiện rèn luyện khác nhau có ích lợi cho cuộc đời đang đi tìm đạo, mà tăng, ni, người tu tại gia phải nương theo, để  Giác ngộ. Do đó Giới có nhiều loại khác nhau và tùy theo căn cơ cao thấp của con người mà đức Phật thiết lập.
Giới cũng có một ý nghĩa khác là cảnh giới, không gian, yếu tố. Phạn ngữ và pali gọi là dhātu.
Tam giới, phạn ngữ là triloka, gồm có Dục giới (phạn ngữ : kāmadhātu), Sắc giới (phạn ngữ :  rūpadhātu) và vô sắc giới (phạn ngữ : arūpadhātu).
Giới là lối sống luôn mang lại an lạc và hạnh phúc cho con người. Nó chứng minh rằng con người có khả năng đạt được giá trị đạo đức tối cao, qua ý chí và nổ lực tự thân của chính mình bằng cách : Tránh làm các điều ác, tu tập các việc lành, giữ tâm ý trong sạch.
Giới là một lối sống vững vàng mạnh mẽ và thuần lý, bởi vì nó là phương cách thực dụng hợp lý, để sửa đổi từ một con người có đức tánh xấu thành một con người có đức tánh tốt, từ đối tượng vô minh trở thành một đối tượng trí thức, từ một con người có tư tưởng tiêu cực bi quan trở thành con người có tư tưởng tích cực lạc quan năng động.
Giới không phải là sự tự hảm mình trong một khung khổ, mà là những bước chân tự nguyện khởi đầu, đi tìm những lời dạy của Ðức Phật, giải đáp cho những quan niệm sai lầm, từ dậm đường này đến các ngõ khác trong cuộc sống mỗi ngày.
Tu tập Giới là việc thực hành những lời dạy trong sáng lợi ích của Phật để nhìn vào con người và xã hội mà khai triển trí tuệ, từ bi bằng mục đích xây dựng an lành cho mình, cho người.
Cầu xin ân huệ, phước lộc hơn là việc tìm đạo giác ngộ giải thoát, không phải là mục đích của sự Tu tập Giới này.
Qua phần tỉnh lược về khái niệm của chữ Giới. Bây giờ là phần nói về giai đoạn hình thành của Nhóm Giới qua những yếu tố được biết của chính nó : Chánh ngữ, tiếng pali viết là Sammàvàcà , Chánh nghiệp, tiếng pali viết là Sammàkammanto, Chánh mạng, Sama àjìvo.
Nói đúng là xa lìa lời nói hư dối bằng một lời nói ra không làm cho tan vỡ, hạnh phúc gia đình, không làm cho mọi người nghi ngờ lẫn nhau, một lời nói để lợi cho mình và cho người, một lời nói ra người nghe hoan hỷ, một lời nói có ích lợi làm cho tâm người nghe được an tịnh, một lời nói thành thật ngay thẳng, bình đẳng, hòa nhã, rõ ràng, giản dị, khuyến tấn, một lời nói hợp thời và đúng lúc, hợp tình và hợp lý, mang đến cho người nghe cảm giác thương yêu, Từ, Bi, Hỷ, Xả. Những lời nói này chính là Chánh ngữ để giúp thêm, phần tăng triễn cho Chánh kiến, Chánh tư duy của người đang đi tìm đạo.
Chánh ngữ, tiếng phạn viết là Samyag vāc, pāli : Sammàvàca. Samma có nghĩa là đúng, hợp lý. Phạn ngữ  Vāc, वाच् viết từ động từ vac, dạng nữ tính, có nghĩa là, tiếng nói, lời nói, âm thanh, ngôn ngữ, bài diễn văn, lời nói thánh thiện.
Giai đoạn hình thành của Nhóm Giới qua những yếu tố được biết của chính nó : Chánh ngữ, tiếng pali viết là Sammàvàcà, Chánh nghiệp, tiếng pali viết là Sammàkammanto, Chánh mạng, Sama àjìvo.
Nói đúng là xa lìa lời nói hư dối bằng một lời nói ra không làm cho tan vỡ, hạnh phúc gia đình, không làm cho mọi người nghi ngờ lẫn nhau, một lời nói để lợi cho mình và cho người, một lời nói ra người nghe hoan hỷ, một lời nói có ích lợi làm cho tâm người nghe được an tịnh, một lời nói thành thật ngay thẳng, bình đẳng, hòa nhã, rõ ràng, giản dị, khuyến tấn, một lời nói hợp thời và đúng lúc, hợp tình và hợp lý, mang đến cho người nghe cảm giác thương yêu, Từ, Bi, Hỷ, Xả. Những lời nói này chính là Chánh ngữ để giúp thêm, phần tăng triễn cho Chánh kiến, Chánh tư duy của người đang đi tìm đạo.
Chánh ngữ, tiếng phạn viết là Samyag vāc, pāli: Sammàvàca. Samma có nghĩa là đúng, hợp lý. Phạn ngữ  Vāc, वाच् viết từ động từ vac, dạng nữ tính, có nghĩa là, tiếng nói, lời nói, âm thanh, ngôn ngữ, bài diễn văn, lời nói thánh thiện.
Trong kinh Đại Bát Niết bàn, trước khi Đức Phật nhập diệt, có đệ tử hỏi : Sau khi Ngài nhập Niết bàn rồi, người đời sau gặp nhiều sách vở ngoại đạo với kinh Phật không làm sao phân biệt. Vậy biết tin theo lời nào để tu? Ngài trã lời rằng : Không luận là lời nói của ai miễn là lời ấy đúng sự thật hợp chân lý thì cứ theo đó mà tu.
Chánh ngữ là lời nói chân chánh, không tạo nghiệp bất thiện bằng lời nói, mà trái lại, dùng lời nói để tạo các nghiệp thiện lành. Lời nói là sự biểu hiện của tâm tư và ý nghĩ, nếu không cẩn trọng, thiếu suy nghĩ, thì lời nói dễ làm cho người khác đau khổ, mà đôi khi chính mình cũng cảm thấy ăn năng hối hận, vì nói lời bất cẩn của mình mà gây ra tai họa.

Bản chất của lời nói tùy thuộc vào những nội dung khác nhau của tâm thức. Nếu tâm có nhiều giận hờn, bức xúc… thì lời nói sẽ mang sắc thái  nặng nề, hung dữ. Còn nếu tâm ta thanh tịnh thì lời nói sẽ dễ nghe, trong âm điệu hài hòa. Nói là một nghệ thuật và cũng là một cách tu qua sự quán sát chọn lời và lắng nghe.
Trên phương diện so sánh, Tư duy thì có tìm hiểu và suy xét, còn Ngôn ngữ thì có lời nói và sự phân tích, chứng minh, hay diễn tả mà còn gọi là luận. Như vậy Ngôn được hiểu như Tìm hiểu của Tư và Luận được hiểu như Duy. Từ điểm này cho thấy tám yếu tố của Bát Chánh Đạo, dù có sự phân chia chúng ra thành những nhóm khác nhau, nhưng chúng vẫn có sự liên quan mật thiết với nhau.
Kết qủa cho thấy rằng : Càng thực tập Chánh tư duy, thì càng tạo điều kiện để giúp cho những mầm móng của Chánh kiến khác được nẩy nở và tăng trưởng thêm. Chánh kiến là nguồn nuôi dưỡng của Chánh tư duy. Nhờ sự phát triển của Chánh kiến và Chánh tư duy mà Chánh ngữ được biểu hiện rõ ràng. Do đó khi lời nói gây ra đau khổ thì phải biết là cái nhìn thấy chưa rõ ràng và việc suy nghĩ chưa đúng.
Trong tương giao giữa mọi người, Chánh ngữ là phương pháp để thu phục nhân tâm hay cách xử thế qua cách nhìn đúng, nghĩ đúng bằng lời nói. Thí dụ như : Làm cách nào để khuyên bảo người khác, khi biết họ làm sai, nói sai, hay nghĩ sai?  Nói cách nào để khỏi làm mất lòng người nghe?  Chỉ có Chánh ngữ và Chánh ngữ.
Ngôn ngữ là chữ viết và tiếng nói để giúp cho con người, hiểu biết, trao đổi thông tin văn hóa, tạo điều luật ngăn ngừa những tội ác và xây dựng nền tảng văn minh cho nhau trong xã hội. Tất cả hạnh phúc trên đời đều bắt đầu từ lời nói của con người và đừng bao giờ mong người khác nói lời dễ nghe, trong khi chính mình chưa làm được như vậy.
Muốn thấy được đạo, tức là muốn cuộc sống được an lạc hạnh phúc, thì hãy tập làm Người biết cách nói đúng đắn, bằng những lời nói cao quý, hữu dụng, đầy đủ ý nghĩa thâm trầm, ghi lại ở trong phần giới của Đức Phật đã đề ra. Hiểu được như vậy, hành được như vậy, chính là Người tu theo Chánh ngữ.
Lời nói có một ảnh hưởng vô cùng quan trọng không những đối với đời sống hạnh phúc của mỗi cá nhân mà còn có thể định đoạt được cả sự an nguy của xã hội. Chính vì thế mà Đức Phật đã đưa Chánh Ngữ vào Bát Chánh Đạo.
Những hành động tạo ra đau khổ cho người lẫn thú vật, thí dụ như khi nóng giận, đánh đá, chửi bới, nguyền rủa đều thuộc về tà nghiệp. Còn làm một hành động chân chánh có ý nghĩa bảo vệ, xây dựng và chở che cho sự sống như : không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không uống rượu cũng gọi là Chánh nghiệp.
Tà nghiệp và Chánh nghiệp thuộc về hành động của thân thể. Trong Bát Chánh Đạo, Chánh kiến, Chánh tư duy được xem như là ý nghiệp và Chánh ngữ thuộc về phần khẩu nghiệp. Do đó chữ Nghiệp được hiểu như : hành động tạo tác bị điều khiển bởi tâm ý.
Chữ Nghiệp do người Trung hoa dịch ra từ chữ Karma của phạn ngữ. Karma, कर्म , कर्मन, karman, có nghĩa là, hành vi, hành động, hoạt động, cách cư xử, tư cách, thuộc về ý, miệng, và thân. Karma có động từ gốc là √kri, từ chữ KRIYA có nghĩa : làm, hành động. Pali viết là kamma कम्म,
Khái niệm chữ Nghiệp trong đạo Phật dùng để chỉ quy luật chung về nguyên nhân và kết quả. Bởi vì mỗi nghiệp làm dưới một điều kiện nhất định, thì sẽ tạo thành một quả, phạn ngữ gọi là Phala, फल có động từ gốc √ फल् phal có nghĩa, được, vỡ, phân chia, phản ánh, phát ra, chịu hậu quả, thành công.
Một nghiệp thiện hay bất thiện được hành động theo ba cách : bằng thân, bằng tâm, và bằng lời, qua dòng tư tưởng. Do đó khi con người có ý làm cái gì thì đã tạo nghiệp, không nhất thiết rằng việc làm đó có xảy ra hay không.
Nghiệp làm con người tái sinh trong một cuộc đời, nhưng hành động con người trong cuộc đời đó vẫn có sự tự do. Nghiệp sinh ra hoàn cảnh, nhưng sự phản ứng đối với hoàn cảnh này lại nằm trong tay con người.
Như vậy, mỗi hành động được thực hiện với chủ ý là một hành động có khả năng sáng tạo. Do ý chí thúc đẩy hành động, tạo thành một lực để làm chuyển động theo cái tiến trình bất tận của sự đổi thay trong cuộc đời.
Nghiệp của mỗi người là hành động riêng của từng cá nhân và kết quả của những nghiệp mà họ tạo ra, thì chính họ cũng là người thừa hưỡng phần qủa riêng này. Nghiệp của mỗi người là kinh nghiệm riêng của từng người, cho nên không ai có thể can thiệp vào để làm thay đổi những kết quả của nghiệp cá nhân được.
Một hành động sẽ không gây nghiệp, nếu nó được thực hiện mà không xuất phát từ tham, sân, si. Chính vì không thông suốt định luật nhân quả nghiệp báo này mà con người tự gây cho mình và xã hội biết bao đau thương khổ luỵ, rồi lại đổ thừa cho trời đất hoặc gán tội cho tha nhân  hay những điều kiện khách quan bên ngoài.

Trái lại khi người nào đã thấu rõ định luật nhân quả nghiệp báo này bằng sự tự quan sát, tự chiêm nghiệm trong đời sống một cách sâu sắc, thì không những có thể tự vượt qua khổ đau, tự hoàn thiện chính mình, mà còn đem lại nhiều lợi lạc cho xã hội.

Trong Phật học, tạo nghiệp tốt không có nghĩa là chấm dứt vòng luân hồi. Muốn thoát khỏi vòng này, thì phải từ bỏ cả hai tốt và xấu. Tóm lại Chánh Nghiệp là hành động, việc làm chân chính, đúng với lẽ phải, phù hợp với chân lý, có lợi ích cho người lẫn vật.
Người tu tập theo đúng Chánh nghiệp là người luôn luôn thận trọng, giữ gìn mọi hành động của mình, để khỏi làm tổn hại đến quyền lợi, nghề nghiệp, địa vị, danh giá, hạnh phúc, tánh mạng của người khác và bao giờ cũng biết tôn trọng lương tâm nghề nghiệp của mình, luôn luôn hành động có lợi cho mọi người, mọi vật. Nếu cần, có thể hy sinh quyền lợi hay tánh mạng mình để giải thoát nỗi đau khổ cho người khác.
Muốn tu tập Chánh nghiệp được đạt đến kết qủa cao, thì phải tu tập Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, một cách nghiêm túc, ngoài ra nếu thích, ngồi thiền, niệm Phật, tụng kinh, trì chú, làm công qủa, để giữ gìn thân, khẩu, ý, cũng là những việc làm đáng hoan nghinh.
Chánh Nghiệp còn mênh mông vô tận, rất thú vị, cho nên thường xuyên trau dồi học hỏi, theo một cách thức nào đó, vừa thích hợp với thời gian và mình không còn sợ sai hay nghi ngờ những gì Phật đã dạy để thực hành trong cuộc sống.
Từ đó, khi gieo hạt bắp, thì ta biết, sẽ được những trái bắp  như ý. Bởi vì, tất cả những thành đạt đều phát xuất từ sự siêng năng và chăm chỉ trong sự tu tập.
Qua hai phần, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, bây giờ đến phần cuối là Chánh Mạng. Ba phần quan trọng này đã hợp thành sự phân hạng của Giới, phạn ngữ gọi là Sila trong Bát Chánh Đạo. Cũng như đã biết, Giới là những quy tắc đạo đức có tác dụng để chỉ cho con người thấy và nhận định được những điều gì không nên làm (varitta) và những gì nên làm (caritta).
Nhờ Chánh Nghiệp trau dồi cho con người tạo thân và khẩu nghiệp luôn trong sạch, để thoát ra khỏi mọi hình thức khổ đau của cho mình và cho người. Sanh, lão, bịnh, chết, là một tiến trình tạo nghiệp và trả nghiệp. Nghiệp chính là sự bình đẳng của sự vay và trả trong cuộc đời. Nghiệp tốt hay xấu mà có giữ giới, thì không sợ lầm đường lạc lối. Bởi vì, sự giữ gìn được giới này có khả năng hóa giải cái xấu thành ra cái tốt.
Trên thực tế, cuộc sống là sự chiến đấu không ngừng để đạt được những nhu cầu khẩn thiết cho sự bảo tồn đời sống cá nhân và nuôi sống gia đình. Con người bị bắt buộc phải xem công việc làm ăn sinh sống là một vấn đề quan trọng, thúc giục, cấp bách, cho nên đôi khi con người không còn bận tâm nhiều về các giá trị nhân văn, mà càng quan tâm nhiều hơn đến tiền bạc và quyền lực. Nếu như xã hội loài người mất đi các giá trị của sự công bằng, tình thương và lòng trung thực, thì đời sống tương lai của con người sẽ ra sao ?
Theo cái nhìn của đức Phật thì tất cả suy nghĩ và hành động của con người đều khởi nguồn từ tâm. Nếu con người có tâm tốt và biết lo lắng tới việc phát triển xã hội loài người, bằng hành động thực tế, thì kết quả sẽ có ích cho nhân loại. Đây cũng là lối sống trong lành, sống trong môi trường trong lành, không sống trên những sự khổ đau của người khác cũng của như thú vật, sống chân chánh của con người, được nuôi dưỡng qua lời dạy của đức Phật, bằng,Từ, Bi, Hỷ, Xả.
Do đó, có đề cao hay không đề cao về nền tảng đạo đức, nhưng nền tảng căn bản này, vẫn tạo nên nhiều thế đứng khác biệt lớn lao trong nhiều lãnh vực của xã hội. Con người sống, không ai dám tự xưng mình là người toàn thiện. Muốn được toàn thiện, thì phải tu tập luyện qua nhiều qúa trình một cách nghiêm túc.
Nếu không được rèn đạo đức, thì con người sẽ trở thành ác nhân và cuộc đời sẽ là nạn nhân của nó. Cho nên, Chánh nghiệp là hành vi đúng đắn, tạo nghiệp thiện, từ bỏ sát sinh, từ bỏ tà hạnh trong các dục.Thực hành sự yêu thương cứu giúp, dẫn đến đời sống chân chánh. Từ đó, Chánh mạng trở thành phương thuốc hữu hiệu, trong mỗi con người, để trị liệu, mọi triệu chứng gây ra đau khổ, bằng cách không nuôi sống mình bằng các nghề tàn bạo, bất chánh pháp, bất tín, không hợp luân lý xã hội… 
Chánh Mạng là nuôi sống thân mạng bằng những nghề nghiệp lương thiện chân chánh tức là sống đúng chánh pháp, không mê tín dị đoan, không sống trong tưởng giải, ảo giác, mơ hồ, trừu tượng… Ngoài ra Chánh Mạng còn có nghĩa là sống không chạy theo dục vọng và các ác pháp về ăn uống.
Chánh mạng, phạn ngữ viết là Samyag-ājīva và pāli là Sammà àjiva. Chữ Samma có nghĩa : đúng, hợp lý. Chữ,  आजीव,ājīva [ājīv] dạng nam tính, có nhiều nghĩa như : Sinh kế, công việc, nghề, cách sinh hoạt, cách sống.
Theo định nghĩa của phạn ngữ Chánh là Samma, đúng, hợp lý. Mạng là ājīva, आजीव,  sự sống, đời sống. Như vậy, Chánh mạng là sinh sống và cách nuôi dưỡng thân mình, một cách chân chánh, bằng bất cứ công việc hay nghề nghiệp đúng theo hợp lý…
Định học là phần liên kết cuối cùng để hoàn thành sự tham khảo của ba nhóm học trong Bát Thánh Đạo.
Định học tiếng Pali viết là Samādhi-sikkhā, có nghĩa là kiên định tập trung tâm tư vào con đường chân chính không để bất cứ điều gì lai chuyển làm thoái chí, phân tâm.
Samādhi, समाधि, thuộc nam tính, có nhiều nghĩa như sau : đoàn kết, hoàn thành, tập trung của tâm trí, suy ngẫm, định, thực hiện, nhận dạng đối tượng, tinh thần hiệp thông. Tập trung, kiểm soát của tâm, sự hấp thụ tinh thần nhưng không phải là mục đích để giải thoát hoàn toàn của tâm.
Sikkhā, शिष्य, có gốc động từ là śiṣya, nghĩa là : đồ đệ, người học, nguyên tắc, sự học.
Đừng nên nhằm lẩn ý  nghĩa của chữ : Dhyana, Samadhi, Bhāvanā.
Dhyana, phạn ngữ, ध्यान, có gốc động từ √dhyā hay √dhyai, có nghĩa : sự tư duy, tập trung lắng đọng. Pali gọi là jhāna.
Samādhi, समाधि, thuộc nam tính, có nhiều nghĩa như sau : đoàn kết, hoàn thành, tập trung của tâm trí, suy ngẫm, định, thực hiện, nhận dạng đối tượng, tinh thần hiệp thông. Tập trung, kiểm soát của tâm, sự hấp thụ tinh thần nhưng không phải là mục đích để giải thoát hoàn toàn của tâm.
Bhāvanā, भवन, Phạn ngữ và Pali có nghĩa là : trở thành hay phát triển, biệt thự, nhà ở, cung điện, trụ sở chính. Trong Phật giáo, nó thường được sử dụng để nói về việc vun trồng Tâm, hay phát triển Tâm,Tập cho Tâm quen dần hay Tu tập Tâm.
Bhāvanā xuất phát từ chữ bhava, भव bhava [bhū_1], dạng nam tính, có nghĩa nhiều nghĩa như : sự tồn tại, tình trạng, nguồn gốc, khai sinh, thịnh vượng, xuất sắc, thế giới, cuộc sống ở đây, một trong 6 luật của nghệ thuật và mỹ thuật, phạn ngữ gọi là ṣaḍaṅgaśilpa bao gồm những nội dung như sau :
- Rūpabheda là nghệ thuật khái niệm về hình dạng.
- Pramana là nghệ thuật khái niệm về ý nghĩa của tỷ lệ.
- Bhava là nghệ thuật khái niệm về biểu hiện của cảm giác hay tình cảm.
- Lāvaṇyayojana là nghệ thuật khái niệm về đặc ân.
- Sadṛṣya là nghệ thuật khái niệm về ý nghĩa so sánh.
- Varṇikabhaṅga là nghệ thuật khái niệm về thế giới màu sắc.
Qua những ý nghĩa tổng quát cho thấy rằng, Thiền không phải là những phương pháp đồng dạng. Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể miêu tả, mà phải do mỗi người tự nếm trải trong cảm giác : Ăn nóng, Uống lạnh tự mình biết. Đó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thật tại. Vì vậy, ngồi thiền không phải là một phương pháp đưa con người đi từ vô minh đến giác ngộ, mà nó giúp cho con người khám phá bản thể thật sự của mình đang sống trong từng khoảnh khắc hiện diện.
Thiền là một khái niệm quan trọng trong sự thực hành Phật pháp (Patipatti = Kiến thức Phật pháp trong thực hành và phản nghĩa là Pariyatti = Kiến thức Phật pháp trên lý thuyết). Từ Bhāvanā thường xuất hiện cùng với một từ khác tạo thành một cụm từ hợp chất có ý nghĩa như sau :
-Citta bhāvanā : phát triển của Tâm thức.
-Mettā bhāvanā : phát triển của Tâm từ.
-Kāya bhāvanā : phát triển của Cơ thể.
-Paññā bhāvanā : phát triển của Trí Tuệ.
-Samadhi-bhāvanā : phát triển của Tâm thanh tịnh.
-Vipassana-bhāvanā : phát triển của cái Nhìn thuần lý.

Tất cả các dạng tu tập Thiền là sự hướng dẫn cho con người, đạt được một tâm trạng tập trung, lắng đọng, như một hồ nước mà người ta chỉ có thể nhìn thấu đến đáy của nó, khi mặt nước trong hồ, không bị xao động. Tâm trạng bình yên, lắng đọng này có thể đạt được qua nhiều cách luyện tập uốn nắn khác nhau.
Định học trong Bát chánh đạo gồm có : Chánh tinh tấn (Phạn ngữ. samyag-vyāyāma), Chánh niệm (Phạn ngữ. Samyagsmṛti), Chánh định (Phạn ngữ. samyaksamādhi).
Như đã biết chữ Chữ Samma trong tiếng Pali có nghĩa : đúng, hợp lý. Phạn ngữ Samyag, सम्यग्. iic (chữ viết tắt của chữ in initio compositi, có nghĩa là trong sự cấu tạo khởi đầu) của chữ, सम्यक्, samyak [dạng trung tính. samyac] thuộc về thán từ có nhiều nghĩa như sau : cùng nhau, chung, đồng thời, tốt, thích hợp, đúng cách, phù hợp, đúng, chính xác, thật.
व्यायाम,vyāyāma, [vyāyam] thuộc nam tính, có nhiều nghĩa như sau : tranh giành, cạnh tranh, chống lại, tập làm, nỗ lực, điều hành, bảo trì. –ifc (chữ viết tắt của chữ in fine compositi, có nghĩa là trong sự cấu tạo phần cuối) có nghĩa tập làm về cái ... , nỗ lực cho hay để .
Qua phần định nghĩa của hai chữ Samyag và vyāyāma, thì Chánh tinh tấn có nghĩa là sự siêng năng đúng với chánh pháp, và đã được Đức Phật xác định rất rõ ràng là tức là Tứ Chánh Cần. Bởi vì, Tứ Chánh Cần là một danh từ chỉ chung cho các cách thức tu tập của Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng.
Tinh tấn là nỗ lực có chức năng, đánh thức và củng cố vững chắc cho sự tu tập hằng ngày của từng cá nhân, nhằm mục đích ngăn chặn hay tránh xa tội, mà tăng trưởng thiện pháp, để mang lại một cuộc sống thanh thản an vui và vô sự.
Tinh tấn mà không có trí tuệ thì không đạt được mục đích mong muốn. Nhưng Tinh tấn có trí tuệ, thì sẽ là các phương thức thích hợp để đạt được sự thành công trong các công việc muốn thực hiện.
Người có nỗ lực không mệt mỏi trong việc tu tập đúng đắn, thì đó chính là năng lực tinh tấn để tự mình thoát khỏi những cám dỗ nhất thời, trong xiềng xích ngục tù của cái ác.
Tinh tấn là nền tảng căn bản cho : Hành động vì lợi ích của người theo lời nguyện | Từ bỏ sự nản chí, bất mãn, lười nhát | Các việc xấu, tội lỗi, không khơi động |sự mở mang trí tuệ.
Tinh tấn là sự rèn luyện tâm linh cao thượng, qua những pháp thiện, bởi vì Thiện là những hành động mang lại hạnh phúc cho bản thân và cho mọi người.
Làm việc gì trên đời, đều cũng cần có sự chú tâm và siêng năng ráo riết, thì mới đưa đến sự thành công. Đường tu Phật phải tập mới được. Thí dụ như khi con người nóng giận thường nói những lời khó nghe, hay làm những hành động không tốt, bởi vì, họ không kiểm soát được chính mình.

Do đó cần phải tập kiểm soát chính mình, để tránh được những hậu qủa không lường được, vì thiếu suy nghĩ trong phút chốc có thể đưa mình xuống tận cùng của khổ đau, mà nói lời ăn năng không kịp.

Mọi sự khởi đầu, tất cả đều khó khăn nhưng không xắn tay áo vào thực tập, mà muốn thành người hiền lành, người tốt trong gia đình và xã hội, thì ước mong có hạt bồ đề tâm chỉ là ảo tưởng.
Tinh tấn là biến mãnh đất đang chất đầy đau khổ,trở thành mãnh đất chứa đựng  lòng tha thứ, bao dung, ôm lấy muôn loài.
Cầu nguyện là chuyện tốt nhưng chưa đủ mà phải dấn thân. Tinh tấn là việc tự dấn thân để tạo thành một chuỗi giải thoát, có thể chuyển hóa được bản thân cho người cũng như cho mình.
Người nông dân trồng lúa, biết lựa chọn những hạt giống tốt, biết chăm sóc nó bằng tình thương, biết dùng những loại phân bón thích hợp cho nó, thì kết qủa vụ mùa thâu hoạch sẽ đem lại cho họ một niềm vui trọn vẹn như ý.
Đau khổ và an lạc, mọi thứ đều do việc lựa chọn của từng cá nhân. Muốn khổ, thì hãy thử làm thân tâm đau. Muốn an lạc, thì hãy thử dùng tin tấn trong việc tu tập của mình trong từng giây phút hiện thời.
Chánh niệm, phạn ngữ viết là Samyagsmṛti. Như đã biết chữ Samyag, सम्यग्. iic (chữ viết tắt của chữ in initio compositi, có nghĩa là trong sự cấu tạo khởi đầu) của chữ, सम्यक्, samyak [dạng trung tính. samyac] thuộc về thán từ có nhiều nghĩa như sau : cùng nhau, chung, đồng thời, tốt, thích hợp, đúng cách, phù hợp, đúng, chính xác, thật.
Chữ स्मृति, smṛti [smṛ-ti] thuộc dạng nữ tính, có nghĩa là, bộ nhớ, ký ức, truyền thống, sử thi, tất cả các văn bản thiêng liêng và truyền thống pháp lý.
Chánh niệm trong Bát Chánh Đạo là suy niệm chân chính, hay là nhớ đúng nghĩ đúng, được xem như một ngọn đèn tỉnh thức để giúp cho tâm, thấy, biết, nhận định, được ý nghĩa tốt đẹp của sự sống, qua những lời Đức Phật đã dạy, mà không sống trong mê lầm, điên đảo, một cách rõ ràng.
Ý nghĩa tốt đẹp quan trọng trong cuộc sống, là biết sống đạo đức, bằng bốn đức tính Từ, Bi, Hỷ, Xả sẳn có trong lòng mỗi người.
Chánh niệm trong Bát chánh đạo chính là nội dung của KinhTứ niệm xứ và cũng là niệm căn niệm lực của ngũ căn, ngũ lực, niệm giác chi trong bảy giác chi.
Đừng nên nhằm lẫn Chánh niệm và Vô tâm. Chánh niệm, thuộc về giáo lý Phật Giáo Nguyên thủy và định nghĩa đã được trình bày như là : sự ghi nhớ những điều hay, lẽ phải, những điều lợi ích cho mình, cho người qua sự chăm chú vào việc làm, mà không để tâm lo ra.
Vô tâm là thuộc về Thiền tông. Vô tâm có nghĩa là không có tâm chấp trước vào các sự vật.
Chánh niệm cũng có nghĩa là ý tứ, bởi vì, Ý tứ chính là sự cẩn thận trong cử chỉ hành động và lời nói, mà  ông bà, cha mẹ, thường hay nhắc nhở con cái trong gia đình, xưa nay, qua những câu như : con lớn rồi phải ý tứ, hoặc  ở những nơi công cộng, thường có những tấm bảng nhỏ thường treo trước các phòng hội họp : Xin vui lòng đóng cửa nhẹ nhàng. Cám ơn sự chánh niệm của qúy vị.
Phương pháp tu tập chính niệm, là sự ý thức được rằng mình đang làm cái gì đó…  trong từng giây phút của đời sống mình. Thí dụ, khi đang ăn, thì biết là mình đang ăn, khi đang uống, biết là mình đang uống… Đây là cách có thể giúp con người chủ động đời sống của mình, không bắt đầu bằng sự phân biệt những ý niệm thiện ác, mà bằng sự quán sát sự sống của bản thân mình.
Muốn thắp lên ngọn đèn chính niệm, thì phải cần nhiên liệu như : hơi thở, ánh mắt tha thứ và thương yêu, từ bỏ những tham giận tầm thường, lạy Phật, tụng kinh, đọc kinh… Tóm lại, nhiên liệu nào có khả năng để soi sáng cho cái hiểu biết rõ ràng về thân thể và sự sống thanh tịnh đều là những nhiên liệu có giá trị.
Trong cuộc sống, mọi sinh hoạt đều biểu hiện ở hành động và lời nói. Do đó, phải biết làm thế nào, để sống ngày hôm nay cho sự an lạc được trọn vẹn, bằng hành động và lời nói, đừng để ngọn đèn tỉnh thức đang cháy bị mờ tối đi hoặc đã tắt ngấm.
Một tâm định có thể tạo ra ánh sáng rất sáng và rất mạnh, gọi là Ánh Sáng Trí Tuệ.  
Chánh định, phạn ngữ viết là Samyaksamādhi. Như đã biết chữ Samyag, सम्यग्. iic (chữ viết tắt của chữ in initio compositi, có nghĩa là trong sự cấu tạo khởi đầu) của chữ, सम्यक्, samyak [dạng trung tính. samyac] thuộc về thán từ có nhiều nghĩa như sau : cùng nhau, chung, đồng thời, tốt, thích hợp, đúng cách, phù hợp, đúng, chính xác, thật.
Samādhi, समाधि, thuộc nam tính, có nhiều nghĩa như sau : đoàn kết, hoàn thành, tập trung của tâm trí, suy ngẫm, định, thực hiện, nhận dạng đối tượng, tinh thần hiệp thông. Tập trung, kiểm soát của tâm, sự hấp thụ tinh thần nhưng không phải là mục đích để giải thoát hoàn toàn của tâm.
Chính định là nghĩa là tập trung tư tưởng vào một vấn đề gì, để thấy cho rõ ràng. Nói cách khác là tập trung tư tưởng vào một vấn đề chính đáng, đúng với chân lý, có lợi ích cho mình cho người.
Chánh định là một phương pháp tu tâm trọng yếu, khiến cho giới được trong sạch, cho tuệ được thanh cao.
Đức Phật nói : "Samādhī bhikkhave samāhito pajānāti sanjānāti passati
Các thầy hãy tham thiền, vì ngươi có tâm thiền định sẽ thấy rõ, nhớ chắc, hiểu mọi việc đúng theo chân lý ".
Người theo đúng Chánh Định, thường tập trung tư tưởng để quán sát những vấn đề chính sau đây :
Quán thân bất tịnh tức là quán tưởng thân không thanh tịnh, để trừ tham dục, si ái.
Quán Từ Bi là quán tưởng tất cả chúng sanh đều là một chân tâm, bình đẳng không khác, để đoạn trừ thù hận và mở rộng lòng thương yêu để cứu độ chúng sanh.
Quán nhân duyên là quán tưởng tất cả pháp hữu hình như muôn vật, vô hình như tâm niệm đều là giả hợp, duyên nhau mà có, chứ không có một cách chân thật, không thường tồn, để đoạn trừ ngu si, pháp chấp.
Quán hơi thở nghĩa là quán tưởng bằng cách chuyên chú đếm hơi thở ra vào, đối trị sự tán loạn của tâm thức.
Trong cuộc sống, mọi sinh hoạt đều biểu hiện ở hành động và lời nói. Do đó, Đức Phật dùng Bát Chánh Đạo làm bản thể và lấy Chánh mạng làm tự thể của giới pháp, lấy Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh tinh tấn, Chánh niệm Chánh định làm nghiệp dụng tương trợ để hướng đến đời sống giải thoát và giác ngộ.
Đồng thời sự tu tập Bát Chánh Đạo có khả năng khơi nguồn các Thánh quả Phật, trong đời sống hiện thực của người học Phật. Các thánh qủa Phật là những năng lực đã có sẳn bên trong mỗi người, chỉ cần rèn luyện và trau dồi một cách nghiêm túc, thì nó sẽ trở thành phương tiện có khả năng bảo vệ, che chở cho mình và những người chung quanh. 

Tứ Thánh Đế (Bốn Chân Lý Cao Cả)


Đức Phật nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ đế, Ngài dạy : “Những bậc A La Hán Chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về bốn Thánh đế”
CHƯƠNG I : DẪN NHẬP
Sau khi chứng đạo cao cả, Đức Phật còn ngồi ở cội Bồ đề suy tư thiền quán thêm 21 ngày nữa về nội dung giáo pháp mà mình vừa chứng đắc. Sau đó ngài quyết định đến vườn Lọc Uyển khai pháp cho 5 người bạn cùng tu với mình trước đây. Bài pháp đầu tiên này được đem ra phổ biến đó là pháp Tứ Đế là Pháp mà nội dung nó là nhằm nói đến đời sống hiện hữu trước mắt. Bài pháp này mang chất sống động rõ rệt về thân phận con người không phải để ca tụng, sùng bái thần linh nào cả, không phải được tuyên đọc từ một vị thiên sứ từ trời cao bay xuống cứu chuộc tội lỗi cho con người, mà là bài pháp được thể hiện, thấy được bởi con người giác ngộ giữa trần gian này, về thân phận con người. Bài pháp này khai mở một đường đi, một chân trời mới là làm sáng  lại giá trị con người. Chỉ cho con người thấy được kho tàng trí thức cũng như khả năng của họ để họ tự nỗ lực kiến tạo lại đời mình bằng mọi hiểu biết có căn cội đúng đắn nhất xuất phát ngay giữa lòng cuộc sống này. Đây là lần đầu tiên hiếm quý duy nhất mà giá trị đời sống, thân phận con người được đem ra phân tích một cách sáng suốt nhất, bằng một kinh nghiệm ngay đây mà mọi hữu tình đều có thể thấy rõ được Đức Phật luôn dạy : “Này các Tỳ Kheo, nếu có ai nói rằng không cần xây dựng tầng dưới của ngôi nhà, tôi sẽ xây tầng trên của ngôi nhà, sự kiện này không thể xảy ra. Cũng vậy, nếu có ai nói rằng không còn giác ngộ Tứ thánh đế, ta sẽ đoạn diệt khổ đau, sự kiện này không thể xảy ra” 1 . Tôn giả Xá - lợi phất (Sari putta) nhận xét về Tứ đế : “Ví như tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều bị nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này lớn nhất trong tất cả dấu chân. Cũng vậy, như hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Tứ thánh đế” 2
Đức Phật nhiều lần  xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ đế, Ngài dạy : “Những bậc A La Hán Chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về bốn Thánh đế” . Như vậy sự hiểu biết về Tứ diệu đế đồng nghĩa với sự đạt được mục tiêu của sự tu tập Phật Giáo. Chính Đức Phật đã chỉ dạy nhiều lần, Ngài nói về sự thất bại không hiểu bốn chân lý cao quý khiến chúng ta phải trôi lăn mãi mãi trong lòng sanh tử 4 . Nói bốn Thánh Đế, đó là Khổ, Tập, Diệt, Đạo nhưng thật ra chỉ có Khổ và sự diệt khổ , như Đức Phật đã nhiều lần xác quyết : “ Nhưng lại chỉ dạy một điều duy nhất là Khổ và sự diệt khổ” Vì sao ? Vì ai thấy rõ Khổ đế thì người ấy đồng thời cũng thấy suốt Tứ đế đúng như bậc Đạo Sư đã dạy : “Này các Tỳ Kheo, ai thấy khổ, người ấy cũng thấy khổ tập, cũng thấy khổ diệt, cũng thấy con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy khổ tập, người ấy cũng thấy khổ, cũng thấy khổ diệt, cũng thấy con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy khổ diệt, người ấy cũng thấy khổ, cũng thấy khổ tập, cũng thấy con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy con đường đưa đến khổ diệt, người ấy cũng thấy khổ, cũng thấy khổ tập cũng thấy khổ diệt” 6.
Đây cũng là một cách nhìn triệt để của Đức Phật, chỉ ra nội dung đời sống là khổ, tam khổ, bát khổ và cuối cùng là luân hồi khổ. Có cảm nhận một cách trực diện sáng tỏ chắc chắn như vậy mới khát khao, đi truy tìm nguyên nhân của nó với kế hoạch cụ thể từ hiện trạng này, và nguyên nhân của mọi đau khổ ở đây xuất phát từ mọi hành tác mà ta đã phóng ra bởi sự xúc xiểm của vô minh là thế lực ngu muội nguyên thủy và cái tâm bám víu đeo níu quá mạnh, khát ái về mọi thế trên dương trần một thuở mình đi qua. Sau khi biết rõ hai thế lực tương quan nhân quả ấy, ta bắt đầu chuyển đời bằng ý chí bằng nỗ lực của chính mình để kiến tạo đời sống thánh hạnh tiến lên đạt giải thoát, thành bậc Giác Ngộ ngay đây. Đó là vinh quang cao tột của một kiếp sống con người. Đây là lần đầu tiên duy nhất trong lịch sử tiến hóa mà nhân loại mới có lần thứ nhất, nó được Đức Phật chỉ cách đúng đắn nhất. Liêm khiết nhất cho ta thực hành, không có ai ngoài Đức Phật có cái trí tuệ tuyệt cùng dạy cho ta như vậy.
CHƯƠNG II : NỘI DUNG TỨ THÁNH ĐẾ
Tứ thánh đế – catvariàsatyanu (s)
Catvariàryasacca (p) 11 Bốn chân lý mầu nhiệm, còn được gọi là Tứ Chân đế, Tứ Thánh đế. Gọi là Thánh Đế bởi vì nó là như thật : “Bốn Thánh đế, này các Tỳ Khưu, là như thật, không ly như thật, không khác như thật. Do vậy được gọi là Thánh Đế” 12. Gọi là Thánh Đế bởi vì giáo lý này đưa đến thoát khổ. Đi vào ý nghĩa của Tứ Thánh Đế chúng ta cần thấy rõ thái độ sống như thật, an tịnh, hỷ lạc và đầy giải thoát của Phật giáo.
Mục I - Định nghĩa Tứ Đế
Tứ Đế là bốn chân lý, bốn sự thật ngay đây giữa lòng xã hội cuộc đời. Đế là cái gì chắc hạt, chắc thật không thể đổi khác được. Nguyên tắc nguyên lý là sự nhận thức của con người có trí tuệ hiểu biết về vấn đề nào như 2 với 2 là 4, thì đó là nguyên tắc bất biến, còn đi vào  cụ thể là viết số 2, số 4 thì số ấy bị xóa mất. Nguyên tắc, nguyên lý mang chất thuần khiết bên trên, chỉ đạo, đèn soi cho sự sống. Đời sống nào bất cứ đều phải có sự chỉ đạo hoặc âm thầm hoặc sáng tỏ từ trong chỗ sâu thẳm hoặc từ bên trên hiểu biết cao cả. Tứ Đế là nguyên tắc chỉ đạo cho thái độ nhận thức và thực hiện đời sống đầy ánh sáng và muôn đời bất di bất dịch, đối với những ai khát khao đời sống ấy, ở ngay đây  giữa dương trần gió bụi bời bời này. Nó bao gồm bốn sự thật là khổ, nguyên nhân sự khổ, Niết bàn an vui, và con đường thực hiện nguồn an lạc vĩnh hằng ấy.
Mục I : Khổ đế (DUKKHA)
Khổ : Là trạng thái bất như ý, mọi khát vọng chủ quan bị bác bỏ, thiếu hụt đủ thứ. Là cái gì khó chịu đựng lâu dài. Khổ có khổ về tình cảm, khổ về tinh thần, khổ về thể xác và mọi thứ khách quan xung quanh. Khổ là một kinh nghiệm mà bất cứ hữu tình nào cũng thể hiện hơn một lần ngay bản thân mình, không nhiều thì ít, không một ai trốn thoát cả, chính vì ta đã có thân. Gộp chung lại gồm có ba thứ khổ là khổ khổ, hành khổ và hoại khổ
Tiết 1 - Khổ khổ:
Nghĩa là thân ta là trụ sở kiến tạo bằng vật liệu của khổ rồi, thêm vào đó còn chồng lên những đói khát, những nóng lạnh và bao nổi ê ẩm khác trên đời đổ tới không thôi.
Tiết 2 - Hành khổ :
Là mọi biến động không đứng yên làm ta đau khổ đối với những gì mình cứ ngỡ là vĩnh viễn còn hoài, đứng đó cung cấp cho sự ham thích của chủ quan mình bấy lâu.
Tiết 3 - Hoại khổ :
Là một hữu vi đều sống bằng nội tạng hoặc hoai diệt, không có bất cứ cái gì tồn tại trong không gian, thời gian mà không bị tan biến cả. Trong khổ kinh nói : “Phàm vật có hình tướng đều phải hoại diệt”13. Thực tế vạn vật trong vũ trụ đều bị luật vô thường chi phối, không tồn tại mãi được. Cứng rắn như sắc đá, lâu năm cũng mục nát; to lớn như trái đất, mặt trăng, mặt trời lâu ngày cũng tan rã. Yếu ớt nhỏ nhen như thân người thì mạng sống lại càng ngắn ngủi, phù du ! Các búa tàn ác của thời gian đập phá tất cả. Một phút mỗi giây ta sống, cũng là mỗi phút mỗi giây ta bị hủy hoại. Và dù ta có sức mạnh bao nhiêu, quyền thế bao nhiêu, giàu có bao nhiêu cũng không thể cản ngăn, chống đỡ không cho thời gian hủy diệt đời ta. Ta hoàn toàn bất lực trước thời gian. Tóm lại “Chấp năm uẩn là khổ”(4) . Còn mỗi thân phận con người có khổ về sinh, già, bệnh, tử, khổ về nỗi chia lìa với một cái mình yêu mến, khổ vì phải đối mặt với kẻ mình ghét thù, khổ vì năm yếu tố cấu tạo nên con người là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Món nào vượt cao lên là gây khổ não như người quá bề bộn về thân xác, y cử động tới lui khó nhọc hay đầu tư quá mức bỏ ăn, bỏ ngủ mà chết. Khổ vì mọi mong khát khao không đạt được, thất vọng, hủy mình như trai gái yêu nhau quá mà không lấy nhau được bèn cùng chết cho rồi. Nếu không chết  thì làm sao sống nổi với cái mong cầu mà không thực hiện được ấy ? Và cuối cùng là cái khổ ghê gớm nhất nguy hại nhất  chính là cái khổ luân hồi, tái sinh qua sáu cõi chịu roi vọt tơi bời, bị đá qua lại mềm như trái chuối trong cổng trại luân hồi suốt cả vạn tỷ đời đã trôi qua. Ra khỏi luân hồi là chấm dứt toàn triệt mọi khổ não.
Đức Phật khẳng định khổ là một sự thực, khi còn  sinh tử luân hồi trong ba cõi sáu đường thì khổ đau vẫn còn tồn tại. Với cái nhìn xuyên suốt đến vô lượng kiếp  trong quá khứ Đức Phật cho biết : “Nước mắt của chúng sanh nhiều hơn nước biển”. Đồng thời thấy rõ bản chất khổ đau trong cuộc đời. 14.
Trong kinh từng  nêu lên câu phật nguyện tuyên bố nổi tiếng về thảm họa của luân hồi là : Nỗi khổ đau của lạc đà chở  nặng qua sa mạc nắng thiêu đốt, không gọi là khổ mà cái khổ sâu sắc nhất chính là cái khổ bị kẹt thảm hại trong luân hồi tái sinh không biết đường thoát ra khỏi”

HAI LOẠI KHỔ, BA LOẠI KHỔ, 3 LOẠI KHỔ
PHỐI HỢP VỚI 12 NHÂN DUYÊN, 8 LOẠI KHỔ, 10 LOẠI KHỔ Ở CON NGƯỜI (5 biểu đồ)
 
 

Mục II : Tập đế (SAMUDAYA)
Tập là chứa nhóm, là đậu lại là cội nguồn của khổ, đó là kết quả của lòng khao khát ham muốn bám víu vào mọi thứ trên đời gọi là ái thủ, là hai khoen quan trọng trong mười hai khoen gọi là mười hai nhân duyên. Tư tưởng ham hố quá mạnh ấy là sợi dây nghiệp thức buộc vào bánh xe tái sinh. Đức Phật dạy : “Đây là Thánh đế về khổ tập, này các Tỳ Khưu, chính là ái (Tanhà) này đưa đến tái sinh, câu hữu với hỷ và tham tìm cầu hỷ lạc chổ này chổ kia, tức là dục ái (Kàma  Tanhà), hữu ái (BhavaTanhà) và phi hữu ái (vibhavaTanhà)15  Vô hữu ái (vibhava Tanhà) 16 Đây là những tham ái cứ liên hệ đến tư tưởng đoạn kiến, là khát ái về sự không hiện hữu. Có người nhàm chán cuộc sống sinh tử, không muốn mình hiện hữu cũng không muốn thác sanh, tức là tham ái pháp chân không của niết bàn. Đây là biểu hiện, vô hữu ái (vibhavaTanha) nên nhớ niết bàn là dập tắt hẳn lòng khát ái, chấp thủ. Nếu ái diệt, thì niết bàn có mặt ngay tại cõi đời này. Đằng này tham ái vẩn còn. Dù là khát vọng vô hữu. Chính sự có mặt của khát vọng này là một thứ lửa nung nấu khổ đau, do đó vô hữu ái vẫn là nhân của khổ. Có lẽ cũng cần nên nhớ rằng tham ái không phải chỉ do những thọ khả lạc  và khả ý làm duyên, mà nó cũng còn do các thọ bất lạc và bất khả ý tạo điều kiện nữa, một người đang đau khổ muốn (tham) tống cái khổ đó, và mong mỏi hạnh phúc hay giải thoát. Trong các trường hợp khác cũng vậy người nghèo khó, người túng thiếu, người bệnh hoạn và người tàn tật, tóm lại là những người “đang đau khổ” đều khát khao hạnh phúc, lạc thú và thỏa mãn. Ngược lại những người giàu có, khỏe mạnh nói chung là những người đang thọ hưởng lạc thú, cũng vẫn có tham ái, nhưng đối với các loại lạc thú cao cấp hơn. Như vậy, khát ái hay tham ái này không thể thỏa mãn được, và những người đeo đuổi những lạc thú phù du này lúc nào cũng tiếp thêm nhiên liệu cho ngọn lửa sanh mạng của họ và lòng tham ái này quả là vô độ. Chỉ khi đau khổ tới, như  hậu quả của tham ái, lúc đó người ta mới nhận ra sự khắc nghiệt của loại dây leo quấn mình quanh tất cả những ai chưa phải là bậc A La Hán hay các bậc hoàn toàn thanh tịnh, đã nhổ sạch rễ cái vô minh của nó. Chúng ta càng tham ái nhiều, chúng ta càng khổ đau nhiều, khổ đau là cái giá phải trả cho lòng tham ái này. “Tham ái sanh sầu  lo, Tham ái sanh sợ hãi, ai thoát khỏi tham ái, không sầu không sợ hãi”. 17 . Biết rằng tham ái ở đây là kẻ thù dẫn dắt chúng ta qua bao kiếp luân hồi. Như vậy tại sao ta lại cứ tiếp tục xây dựng ngôi nhà này ? Đức Phật dạy : “Hãy nhổ tận gốc ái (Tanhàya mùlam khanatha)18 .
“ Như  cây bị chặt đốn
   Gốc chưa hại, vẫn bền
   Ái tùy miên chưa nhổ
   Khổ này vẫn sanh hoài” 19
                Vì vô minh nên phát sinh hoặc – nghiệp khổ; vì vô minh nên tham ái vẫn còn, chấp thủ, phiền não. Phiền não thì rất nhiều, nói tóm lược có mười phiền não gốc, gọi là căn bản phiền não, cũng gọi là mười kiết sử. Đó là : Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ, Giới Cấm Thủ và Tà Kiến. Mười món này trói buộc, sai sử con người đi vào con đường lầm lạc khổ đau.
“Nay chúng ta đã biết rõ mặt thật xấu xí của đời rồi, đã biết nó là một biển khổ mênh mông luôn luôn dậy sóng, thì ta phải nhàm chán nó, xa lánh nó. Biết khổ để tìm cách thoát ly, chớ không phải biết khổ để rồi chán đời, nản chí, buông xuôi tay ngồi khóc than. Nhưng làm thế nào để thoát ly nó nếu chúng ta chưa biết rõ ngành ngọn, đường đi nước bước, chưa biết rõ vì đâu mà chúng ta phải khổ. Nhà lương y giỏi muốn trừ bệnh, phải tìm căn nguyên của bệnh. Một viên tướng giỏi muốn trừ diệt tận gốc bọn phiến loạn, phải cho điều tra kỹ lưỡng sào huyệt, tổng hành dinh của chúng ở đâu, nhiên hậu mới có thể bao vây, đánh bắt chúng nó đầu hàng một cách dễ dàng. Cũng vậy biết khổ chưa đủ để diệt khổ, muốn diệt khổ tận gốc phải tìm nguyên nhân phát sinh ra khổ”. 20
Chắc chắn sẽ không một người sáng suốt nào phủ nhận sự hiện hữu của khổ hay bất toại nguyện trong thế gian này. Tuy nhiên cái khó đối với họ là làm thế nào để hiểu được chính tham ái này đã đưa đến tái sanh. Muốn hiểu được điều này ta phải nắm vững giáo lý căn bản của đạo Phật là Nghiệp (kamma) và tái sinh. Nếu khát ái vẫn còn thì sinh tử luân hồi vẫn tiếp tục. Nó chỉ có thể ngừng khi nào sức mạnh điều khiển nó là khát ái bị chặt đứt nhờ trí tuệ  thấy rõ thực tại, chân lý, Niết bàn.
Mục III :  Diệt đế (NIRODHA)
Diệt là tiêu diệt, trừ diệt. Diệt ở đây tức là diệt dục vọng mê mờ, phiền não. Đó là lý lẽ chắc chắn, đúng đắn do trí huệ sáng suốt soi thấu và thuyết minh. Diệt đế, chữ pali gọi là “Nirodha dukkha” tức là sự thật đúng đắn, mà Đức Phật đã thuyết minh về hoàn cảnh tốt đẹp mà mọi người có thể đạt được khi đã diệt hết mọi phiền não, mê mờ. Phiền não, mê mờ là nguyên nhân của đau khổ. Trong kinh nhân quả Phật dạy “Các ông phải biết, vì tập nhân phiền não mới có quả khổ sanh tử, vậy các ông phải chết trừ phiền não tập nhân. Khi đã dứt trừ được rồi, lại thường thường phải nắm chặt chỗ dứt trừ cho chắc chắn, không khi nào nỡ bỏ đến khi chứng được đạo quả niết bàn thì tất nhiên tập nhân phiền não diệt hết, mà quả khổ luân hồi cũng không còn 21. Thế cho biết muốn giải thoát phải tu hành là diệt trừ tập nhân phiền não vậy. Diệt trừ được phần nào tập nhân phiền não là đã bước đến gần giải thoát chừng ấy, như một cái phao; càng bớt dần được chừng nào vật nặng dìm nó xuống, thì nó càng nổi dần lên mặt nước chừng ấy. Đức Phật lại dạy : “Đây là Thánh đế về khổ diệt, này các tỳ kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái vậy, sự quăng bỏ, giải thoát, không có chấp trước” 22 . Đức Phật làm sáng tỏ “Quả thực, này là Ràdha, sự đoạn tận ái (Tanhàya) là niết bàn”23 . Trả lời câu hỏi của một vị chư thiên, Ngài nói “Đoạn trừ tham ái (Tanhàya – Vippahànena) là niết bàn”24. Còn ngài Xá Lợi Phất thì nói : “Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn trừ dục tham (hay dục khát ái) (chandaràga) đối với năm uẩn, chính là sự diệt khổ (dukkha)”. Nhưng niết bàn không thể được miêu tả, cũng không thể được nhận thức bằng lý trí, vì Niết bàn là Siêu thế, chỉ chứng nghiệm được bằng trực giác mà thôi. Niết bàn là cảnh giới giải thoát, thoát ly ngôn ngữ khái niệm, thoát ly mọi tường trạng diễn đạt, nên không phải là vấn để của khảo sát.
Niết bàn còn được mô tả bằng nhiều khái niệm hay phương tiện chỉ bày của một số kinh điển bằng các từ ngữ rất phủ định như Niết bàn là ái diệt, khổ diệt, tham sân si diệt, v..v… “Đấy là sự chấm dứt rốt ráo của dục vọng; dứt bỏ, chối từ nó, thoát khỏi nó, rứt ra khỏi nó.”25
Khi một tu sĩ ngoại đạo (pariv – ràjaka) hỏi Niết bàn là gì, Xá Lợi Phất (sàriputta), Vị đệ tử lỗi lạc của Phật cũng đã trả lời giống như định nghĩa trên của Phật về vô vi : “Sự diệt tham, diệt sân, diệt si” 26 . “Hữu diệt (bhavanirodha) là niết bàn”27 . Về  sau nói đến Niết bàn Phật dạy : “Hỏi các Tỳ kheo, có cái không sinh, không trở thành, không bị giới hạn, không bị kết hợp. Nếu không có cái không sinh, không trở thành, không bị giới hạn, không được kết hợp thì sẽ không có lối thoát cho cái đã sinh ra, trở thành, bị giới hạn, được kết hợp. . Bởi vì có cái không sinh, không trở thành, không bị giới hạn, không được kết hợp, cho nên có lối thoát cho cái đã sinh ra, trở thành, bị giới hạn, được kết hợp”28. “Ở đây không có chỗ cho bốn đại đất, nước, gió, lửa, những khái niệm dài, rộng, thô, tế, xấu, tốt, danh và sắc đều hoàn toàn bị phá hủy, không có đời này đời sau, không có đến đi, hay đứng, không có chết hay sống, không thể tìm thấy đối tượng giác quan”29. Vì niết bàn được diễn đạt bằng những từ ngữ phủ định như thế, nên có nhiều người đã có một quan niệm sai lầm rằng nó tiêu cực, và diễn tả sự tiêu diệt bản ngã. Niết bàn không phải là sự hủy diệt của bản ngã, bởi vì không có bản ngã nào để hủy  diệt. Nếu có hủy diệt thì đấy là sự hủy diệt của ảo tưởng mà ý niệm sai lầm về ngã gây ra.
Nói Niết bàn là tiêu cực đều không đúng. Những khái niệm tiêu cực và tích cựa đều tương đối, thuộc phạm vi đối đãi. Bởi thế những từ ngữ ấy không thể áp dụng cho Niết bàn là chân lý tuyệt đối vượt ngoài nhị nguyên, tương đối.
Câu chuyện thời danh về con rùa kể chuyện đất liền cho loài cá nghe, cho chúng ta khái niệm rằng, ngôn ngữ chuyên chở ngũ tính của con người hoàn toàn bất lực trong việc diễn đạt Niết bàn. Càng nỗ lực diễn đạt càng tạo thêm ngộ nhận.
Dù không diễn tả được, nhưng quyết định Niết bàn là có thực; nó là thực tại như thật, Ở nơi nào có mặt tuệ giác vô ngã hoàn toàn, ở đó có Niết bàn. 30.
Một trong các đặc tính của Niết bàn là chấm dứt toàn bộ dòng tiếp nối của tái sinh (samsâra) hay tái hiện hữu (bhavacakkha). Theo học thuyết nghiệp và tái sanh một chúng sanh được sanh ra là do các trói buộc của vô minh, tham ái và chấp thủ. Sự chứng đạt niết bàn trái lại bao gồm sự diệt trừ trọn vẹn các trói buộc này bằng cách phát triển tuyệt đối tuệ giác (vijjaa) và trí tuệ (panananaa). Đó là tiến trình chấm dứt luân hồi. Đức Phật và các vị A La Hán khác đã diễn tả một cách kinh nghiệm về sự chấm dứt luân hồi bằng “sanh đã tận, đời sống thánh đã hoàn thành, điều cần làm đã làm, không còn phản tái sanh nữa”31 đạt đến trạng thái : Thường, Lạc, Ngã, Tịnh là không còn ô nhiễm luôn luôn thanh tịnh trong sáng.
Mục IV : Đạo đế (MAGGA)
Đạo đế chơn lý cao thượng thứ tư trong Tứ diệu đế là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ. Trong bốn đế, Đạo đế được xem là tối quan trọng. Vì đây là phương pháp tu tập có khả năng chấm dứt mọi nguồn gốc khổ đau của đời sống con người dẫn đến Niết bàn tịnh lạc.
Trong phần Đạo đế này, là phần quan trọng và được Phật dạy một cách rõ ràng chu đáo : “Đạo đế có 37 phẩm, chia ra làm 7 loại” :
1-     Bốn món Tứ  niệm xứ  (Tứ niệm xứ)
2-     Bốn món Chánh cần (Tứ chánh cần)
3-     Bốn món  như y túc (Tứ chánh cần)
4-     Năm căn (Ngũ căn)
5-     Năm lực (Ngũ lực)
6-     Bảy phần Bồ Đề (Thất Bồ đề phần)
7-     Tám phần chánh đạo (Bát Chánh Đạo Phần)

Tiết 1- Tứ niệm xứ : Tứ niệm xứ là bốn phép tu trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo nghĩa là bốn chỗ mà người tu hành phải luôn luôn quán xét. Đó là :
1- Quán thân bất tịnh : Là quán thân thể mình cũng như mọi người khác, hiện thời chỉ là cái túi da trong đó chứa đầy những thứ tanh hôi, nhơ bẩn, và rồi đây nó sẽ phải chết đi, chưng phình hư thúi cho đến cuối cùng tất cả đều phải hóa thành tro bụi đất cát.
2- Quán Thọ Thị Khổ :
Là quán nghĩ sự cảm thọ về thân tâm thường bị Tám thứ khổ nung nấu ngoài ra còn nhiều thứ khổ khác như : Đói, Khát, Nóng, Lạnh …. bức bách, đã khổ lại càng thêm khổ, nên gọi là khổ khổ. Sự an vui vừa đến chợt đã tiêu tan trong lòng cảm thấy sầu khổ không vui, cảnh ấy tuy là tốt đẹp, nhưng chỉ trong giây phút rồi lại biến mất cầm giữ chẳng được, sinh ra buồn khổ, nên gọi là Hành Khổ.


3- Quán Tâm Vô Thường
Là Quán nghĩ tâm chúng sanh vô thường luôn luôn sinh diệt biến đổi, đối với mọi sự việc chợt vui chợt buồn, chợt thương, chợt ghét, niệm này vừa qua, niệm kia chợt đến, giống như sóng cuồn cuộn chảy nên gọi là tâm vô thường chỉ có tâm Phật mới là chân thường.
4- Quán pháp vô ngã :
Là quán nghĩ ta đây cùng hết thảy sự thật trong thế gian đều do nhân duyên hòa hợp mà hiện ra cái giả tưởng, sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, từ chỗ này đến chỗ khác, quanh đi quẩn lại tất cả đều khó có tự thể nên gọi là Vô Ngã, chỉ có pháp thân mới là Chân Ngã. Vậy người tu hành cần phải để tâm quan sát nhàm chán cái chẳng sạch (nhơ bẩn), sự cảm thọ là khổ. Cái tâm thương ghét vô thường, các pháp không có ngã thể, đồng thời diệt trừ cái tâm niệm sai lầm để trở thành cái tâm trong sạch, sáng suốt và giác ngộ.
Tiết II :  Tứ Chánh Cần
Chánh là chánh đáng, cần là siêng năng. Tứ Chánh Cần là bốn công việc siêng năng chánh đáng.
Tất cả công việc thiện đều là chánh đáng. Tất cả công việc thiện đều cần siêng năng chuyên làm. Tất cả việc ác cần siêng năng dứt bỏ. Bốn việc đó là :
1-     Ác vị sanh linh bất sanh :
Việc ác chưa sanh khởi cần phải ngăn ngừa đừng cho phát sanh
2-     Ác dĩ sanh sử trừ đoạn :
Việc ác nào đã sanh ra cần phải dứt trừ hẳn.
3-     Thiện vị sanh sử phát sanh :
Việc thiện chưa sanh cần phải khiến cho phát sanh
4-     Thiện dĩ sanh sử tăng trưởng :
Việc làm lành nào đã sanh ra cần phải làm cho tăng trưởng thêm lên. Người tu hành muốn thành tựu bốn việc trên đây. Trước hết phải kiềm giữ thân tâm không cho sinh những ác nghiệp và gắng gỏi thân tâm làm theo các thiện pháp thì mới mong đạt kết quả tốt đẹp.
            Tiết III - Tứ Như Y Túc :
            Thần là thần thông. Túc ví như hai chân của thân. Thân đứng vững được là nhờ có hai chân. Bốn món thần thông này được sanh ra là nhờ ở thiền định gồm có:
1-     Dục Thần Túc :
Dục nghĩa là mong muốn. Người tu hành hằng mong muốn pháp thiền định mình đang tu một cách tha thiết thì định luật mới nương vào lòng chí thiết đó mà phát sinh, cũng như người đời mong muốn vật dục không bao giờ quen.
2-     Tinh tiến thần túc :
Tinh tiến nghĩa là cố gắng tiến lên. Lòng mong cầu đã có, người hành đạo cần phải kiên tâm bền chí, chuyên chú vào pháp thiền định mình đang tu một cách mạnh mẽ thì định luật mới nương vào sự tinh tiến mà phát sinh, không còn bị trở ngại bởi hoàn cảnh chi phối.
3-     Nhất tâm thần túc
Nhất tâm nghĩa là tập trung tư tưởng vào một định cảnh, Người tu hành muốn diệt hết phiền não chứng được đạo quả thì tâm phải chuyên nhất vào pháp Thiền định mình đang tu một cách vắng lặng, để định luật nương vào lý nhất tâm mà phát sanh, vì tâm có định, trí tuệ mới phát sanh, trí tuệ sanh thì mới có giác ngộ.
4 - Quán thần túc : 
Quán nghĩa là quán xét. Người tu Định đã có trí tuệ và dùng trí tuệ để quán xét pháp thiền định mình đang tu, quán trí ấy do Định mà có, trí ấy là Tịnh trí vì tịnh nên nó có thể như thật và hiểu thấu chân lý của vũ trụ, vạn hữu một cách triệt để.
Người tu theo bốn phép thiền định này sẽ chứng được thần thông tự tại theo ý muốn, cho nên cũng gọi là Tứ Như Y Túc vậy.
            Tiết IV - Ngũ Căn
            Căn là gốc rễ, lực là sức mạnh. Cả hai đều là danh từ dùng để ví dụ. Căn ví như cây có gốc rễ mới có thể sanh trưởng. Lực ví như gốc rễ có bám chắc thì cây mới có thể tốt tươi. Hai duyên đó hòa hợp thì cây mới có đủ năng lực để khai hoa, kết trái. Người cầu đạo cũng thế, nếu có lập được căn bản vững chắc, lại thêm có sức mạnh bền chặt thì mới có hy vọng đạt thành đạo quả.
            Ngũ căn gồm :
1-     Tín căn : Tin pháp Tứ đế và ba mươi bảy phẩm trợ đạo là những đạo lý chân thật.
2-     Tấn căn : Tinh tiến cầu đạo quyết không bao giờ thối bỏ.
3-     Niệm căn : Tâm thường suy nghĩ đến những đạo lý trên, không khởi ra những tư tưởng tạp nhiễm.
4-     Định căn : Tâm với đạo hợp làm một, không cho nó tán loạn ra bên ngoài.
5-     Tuệ căn : Quán Sát nghĩa lý Tứ đế là con đường để đi đến bờ giác ngộ.

Tiết V  - Ngũ Lực :
1-     Tín Lực : Có sức mạnh của lòng tin chánh pháp, không chịu tin theo các tà tuyết của ngoại đạo làm mê hoặc cám dỗ, không vì hoàn cảnh đổi thay mà ngã lòng thối chí.
2-     Tấn Lực : Sức mạnh của tin tấn, không ngại gian nan khó nhọc, đã phá mọi hủ tục dị đoan và mạnh mẽ tiến lên đường đạo giải thoát.
3-     Niệm Lực : Sức mạnh của Chánh Niệm, hễ Tạp Niệm nỗi lên lập tức dứt bỏ khổng để nó tiếp tục sanh nữa.
4-     Định Lực : Sức mạnh của tâm định, trong tâm không loạn động và ly khai hết những khuấy rối của hoàn cảnh bên ngoài.
5-     Tuệ Lực : Sức mạnh của Trí Tuệ dùng trí tuệ phá trừ vô minh, khiến thân tâm hoàn toàn sáng suốt.

Tóm lại, Ngũ Căn là năm căn bản để phát sinh tất cả thiện pháp, còn Ngũ Lực là năm sức mạnh của Ngũ căn làm cho Ngũ căn được bền chắc và hoạt động đắc lực các thiện pháp.
Tiết VI - Thất Bồ Đề Phần :
Thất Bồ Đề Phần hay Thất Giác Tri đó là bảy phương pháp tu hành để chứng thực vô lậu trí tuệ, gồm :
1-     Trạch pháp giác chi :
Tất cả sự lý đều phải dùng trí huệ để quán xét và lựa chọn cho thật kỹ càng nào là chánh là tà, pháp nào là lành, pháp nào là dữ để tránh .
2-     Tinh tiến giác chi :
Tu học Phật pháp cố nhiên là phản tinh tấn nhưng không tin tấn trên con đường cực đoan vô ích, quá khổ hạnh và quá vui sướng, mà cố gắng tu hành theo trung đạo Phật Pháp, là đạo lý thích trung không thái quá, không bất cập.
3-  Hỷ giác chi : Tâm ngộ nhận được Phật Pháp tự nhiên sanh vui mừng gọi là Pháp Hỷ, nhưng nếu hiểu rõ pháp có liễu nghĩa và bất liễu nghĩa vậy phải nhận thức chính chắn không nên lầm lẫn.
4  – Khinh an giác chi : Người tu hành cố gắng tu tập nên phiền não được diệt trừ trí tuệ được khai minh và thân tâm được tự tại khoan khoái nhẹ nhàng.
5  – Xã giác chi : Lìa bỏ hết thảy vọng hoặc chấp trước nơi nội tâm và các pháp ở ngọai cảnh, vì đều là hư vọng chẳng thật, đã xã rồi không nên nóng lòng nghĩ tới.
6 – Định giác chi : Tập trung tâm tưởng vào một định cảnh không tán loạn cũng không hơn trầm vô ký.
– Niệm giác chi : Là quán nghĩ ghi nhớ. Niệm ví như ông thầy thuốc coi bệnh, sáu giác chi trên ví như những vị thuốc. Người tu hành cần phải luôn luôn nhớ nghĩ đến chánh pháp để Định và Lực được quân bình.
Huệ thiếu, tức tâm thần bị mờ ám nên phải dùng ba giác chi : Trạch pháp, Tinh tấn và Hỷ để cân nhắc.
Định thiếu tức tâm thần bị xao động, nên phải dùng ba giác chi : Khinh an, Xã, Định để được an ổn.
Tiết VII  – Bát chánh đạo
Chân là chân chánh, ngay thẳng. Đạo là con đường. Bát chánh đạo còn được gọi là con đường Trung đạo (Majjhimàpatipadà) vì nó tránh hai cực đoan : Lợi dưỡng là đắm mình trong dục lạc được xem là thấp hèn, dung tục và dẫn đến nguy hại là một cực đoan. Tự hành hạ mình bằng các hình thức khổ hạnh nghiêm khắc dẫn đến đau khổ, thấp hèn và nguy hại là một cực đoan khác. Trung đạo là con đường độc nhất đi đến giải thóat hết thảy các lậu hoặc . Đức Phật dạy :
“Nầy các vị tỳ kheo, đây là diệu đế con đường diệt khổ, đó chính là con đường (Bát Chánh đạo) : Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định” 32

Ngài đã tìm ra Trung đạo bằng kinh nghiệp của chính Ngài, và thấy nó “Đem lại tri kiến, đưa đến an tịnh, trí tuệ, giác ngộ, Niết bàn”. Trung đạo này thường được gọi là (Bát chánh đạo) con đường thánh tám ngành (ariya attanggi ka magga) vì nó có tám phần :
1 – Chánh tri kiến (sammà ditthi)
Sự thấy, hiểu biết chân chánh. Chánh trực hay nhận thức đúng, rõ ràng như thật. Nikàya 33 Định nghĩa chánh tri kiến “ Chánh Kiến chính là sự hiểu biết về khổ (Dukkha) hay tính chất bất tọai nguyện của mọi hiện hữu duyên sanh hiểu biết về nhân sanh khổ, về sự diệt khổ và con đường dẫn đến sự diệt khổ” 34 . Người có Chánh Kiến thấy như thế nào thì nhận đúng như thế ấy, không lấy trắng làm đen, xấu làm tốt, dở làm hay, hay trái lại. Sự nhận xét sự vật của người ấy không bị tập quán, thành kiến, dục vọng ngăn che hay làm sai lạc. Chánh tri kiến có hai loại.35 Thấy có bố thí, có cúng dường, có lễ hy sinh, có quả báo có các nghiệp thiện ác, có đời này có đời khác, có mẹ có cha, có các loại hóa sinh, ở đời có các bậc Bà la môn, như vậy là chánh kiến hữu lậu.
Phàm cái gì thuộc tuệ căn, tuệ lực, trạch pháp giác chi, Chánh kiến, đạo chí của một vị thành thục Thánh đạo A – la – hán, có vô lậu tâm, chánh kiến, như vậy là chánh kiến vô lậu, siêu thế. Làm cho đèn huệ sáng ngời, tiền trần không phương che ám được.
2– Chánh tư duy (Sammà sam kappa) :
Tư suy là suy nghĩ, nghiệm xét, nó thuộc về ý thức, chánh tư duy là suy nghĩ, xét nghiệm chân chánh, tư tưởng đúng với lẽ phải. Đức Phật dạy : “Chánh tư duy là những tư duy về sự xuất ly (các dục), tư duy về tâm từ hay vô sân, và tư duy vô hại hay bi mẫn”. Tư duy ngược lại là Tư duy36.
Người tu theo pháp Chánh tư duy, thường xét nghĩ đạo lý cao siêu, suy tìm thể tánh nhiệm màu, biết xét những hành vi lỗi lầm, những ý nghĩ sâu xa để sám hối, biết suy nghĩ về ba món vô lậu học : Giới, Định, Huệ để tu giải thoát ; biết suy xét vô minh là nguyên nhân đau khổ, là nguồn gốc của tội ác và tìm phương pháp đúng đắn để tu hành hầu giải thóat cho mình và cho người.
3- Chánh ngữ (Sammàvàlà) :
Do có hiểu biết và tư duy đúng đắn, lời nói và ngôn hạnh của hành giả cũng nhu hòa, chánh trực. Luận Thanh tịnh đạo (Visudhi Magga) ghi :  “Khi hành giả thấy và tư duy như vậy (từ trên cơ sở bốn sự thật và duyên khởi – vô ngã) sự từ bỏ tà ngữ của vị ấy, một sự từ bỏ ác ngữ nghiệp gọi là Chánh ngữ” 37
Trong kinh ví dụ cái cưa 38 , Đức Phật dạy về năm lọai ngữ hành mà một người tu tập Chánh ngữ cần thực hành :
-         Nói đúng thời, không nói phi thời;
-         Nói lời chân thật, không nói lời hư nguy;
-         Nói lời nhu hòa, không nói lời thô bạo;
-         Nói điều lợi ích, không nói điều vô ích;
-         Nói lời xuất phát từ lòng từ, không nói lời xuất phát từ lòng sân;
Người tu theo Chánh ngữ rất thận trọng lời nói, trước khi muốn nói gì phải suy nghĩ coi có lợi ích và chân thật không “Xưa Đức Khổng tử vào viếng chốn cổ miếu, thấy bức tranh họa một hình người bị kẹp miệng ba lần, Ngài dạy lại môn đồ phải cẩn trọng lời nói”39
“Ngày xưa, trước khi Đức Phật nhập niết bàn, có đệ tử hỏi :
-         Bạch Đức Thế Tôn, khi Thế Tôn nhập Niết bàn rồi, người đời sau gặp nhiều sách vở ngoại đạo không sao phân biệt với Kinh Phật, như thế biết tin theo lời nào tu ? Phật dạy : - Chẳng luận là lời nói của ai miễn lời nói ấy đúng sự thật hợp chân lý cứ tin theo mà tu.
-          
Vậy phàm những lời nói ấy đúng lý, hợp lẽ, có lợi ích cho tòan thể chúng sanh là chánh ngữ. Những lời nói ấy chúng ta phải tin theo và tập nói cho đúng như thế”40
4 – Chánh nghiệp (Samma Kammanta)
Nghiệp (Kamma) là hành vi có tác ý. Một hành động hay hành vi xuất phát từ nhận thức và tư duy chân chánh được gọi là Chánh nghiệp. Ngược với Chánh nghiệp là tà nghiệp. Sự từ bỏ các hành vi bất thiện thuộc tà nghiệp như giết hại, chiếm đọat tài sản của người khác, làm tổn hại đến quyền lợi, nghề nghiệp địa vị danh giá, hạnh phúc, tánh mạng của người khác. Người theo đúng chánh nghiệp bao giờ cũng tôn trọng lương tâm nghề nghiệp của mình, luôn luôn hành động có lợi cho mọi người, mọi vật, và nếu cần, có thể hy sinh quyền lợi hay tánh mạng của mình để giải thoát nỗi đau khổ cho người khác.
Ngòai ra cũng còn gọi là chánh nghiệp khi dùng trí huệ để quán tưởng những pháp chân chính, hoặc ngồi thiền, niệm Phật, hoặc trì tụng, kinh hành, để giữ gìn thân, khẩu, ý ba nghiệp cho thanh tịnh.
5 – Chánh mạng (Sammààjìva)
Mạng là sự sống, đời sống. Chánh mạng là sanh sống một cách chân chính bằng nghề nghiệp lương thiện, trong sạch của mình. “Người theo đúng chánh mạng, sống một cuộc đời ngay thật, không gian tham, không làm giàu có trên mồ hôi, nước mắt của người khác, không làm cho người và vật phải đau khổ, vì nghề nghiệp của mình. Không buôn bán sát hại loại súc vật để giết lấy thịt, mua bán người (làm nô lệ), các lọai rượu và chất say, mua bán độc dược, heroin, vũ khí … để làm lợi riêng mình”. 41 Người theo đúng Chánh mạng sống một cuộc đời có ý nghĩa lợi mình, lợi người, xứng với ba bữa cơm mình ăn, manh áo mình mặc chứ không ăn không ngồi rồi, sống bám vào người khác.
Người theo chánh mạng sống đúng Chánh pháp, không mê tín dị đoan và biết thân tứ đại vốn vô thường, nên lấy tịnh giới làm thể, lấy trí huệ làm mạng, bỏ niệm vọng cầu, an vui với chánh pháp.
6 – Chánh tinh tấn (Sammà và yàma) :
Là sự nổ lực siêng năng, chuyên cần, thẳng tiến mục đích đã vạch sẵn. Không vì một một lý do gì mà lùi bước. Chánh tinh tấn là chuyên cần siêng năng làm việc chánh nghĩa, lợi lạc cho mình cũng như cho người và vật “ Người theo đúng chánh tinh tấn, trước tiên bao giờ cũng hăng hái sửa mình, cương quyết bài trừ những điều ác, quyết tâm phát triển mọi hạnh lành, người theo đúng chánh tinh tấn dũng mãnh tiến lên trên đường đi đến giải thóat, cho đến lúc nào đạt được mục đích cao cả, cùng tột ấy mới thôi”.
Nói tóm lại, người theo đúng Chánh Tinh Tấn, quyết tạo nghiệp vô lậu xuất thế gian, lấy chánh trí làm mãnh lực, lấy niết bàn làm chỗ quy hướng, một lòng chẳng nể, muôn kiếp không dời, quyết gắng công phu, định thành đạo quả, để trước tự độ, sau hóa độ chúng sanh.
7 – Chánh niệm (Sammàsâti)
7.2  – Chánh ức niệm : là nghĩ nhớ đến các điều lổi lầm để thành tâm sám hối, và nghĩ nhớ đế Tứ Trọng Ân : Ân Cha Mẹ, Ân Tổ Quốc, Ân Chúng Sinh và Ân Tam Bảo để lo báo đền.
7.1  – Chánh quán niệm : là dùng tâm từ bi xét nghĩ cuộc đời là khổ não, tật bệnh, mê mờ mà chúng sanh đang mắc phải, để mở rộng lòng yêu thương và quyết ra tay cứu độ.
Người theo đúng chánh niệm, thường quán sát cảnh chân đế, năng tưởng niệm các trợ đạo, bất luận ở đâu và làm gì, cũng nhớ nghĩ đến cái quả vô lậu xuất thế gian, di trải qua bao nhiêu số kiếp cũng không thối tâm xao lãng. 42
8 – Chánh định (Sammasamàdhi) :
Đức Phật dạy :” Tỳ kheo ky dục, ly pháp bất thiện chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh có tầm có tứ….. xá lạc xá khổ diệt hỷ ưu dã cảm thọ, trước chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc xả niệm thanh tịnh. Này các tỳ kheo đây gọi là Chánh định” 43. Chữ “Định” ở đây là tập trung tư tưởng vào một vấn đề gì, để thấy cho rõ ràng, chính đáng, đúng với chân lý có lợi ích cho mình và người” 44, người theo đúng chánh định, thường tập trung tư tưởng để quan sát những vấn đề chính sau đây :
8.1         Quán Thân Bất Tịnh (Bất Tịnh Quán) tức là quán tưởng thân không thanh tịnh để trừ tham dục, si ái.
8.2         Quán Từ Bi (Từ Bi Quán) lá quán tưởng tất cả chúng sinh đều là một chân tâm, bình đẳng không khác, để đọan trừ thù hận, và mở rộng lòng thương yêu để cứu độ họ.
8.3         Quán Nhân Duyên (Nhân Duyên Quán) : là quán tưởng tất cả pháp hữu tình như muôn vật, vô hình như tâm niệm đều là giả hợp, duyên nhau mà có, chứ không có một cách chân thật, không trường tồn để đoạn trừ ngu si pháp chấp.
8.4         Quán Phân Biệt (Giới phân biệt Quán) :
Nghĩa là phân biệt và quán tưởng sự giả hợp của mười tám giới, sáu căn, sáu trần, sáu thức để thấy không thật có “ngã pháp ngõ hầu diệt trừ ngã chấp, pháp chấp”.
8.5     Quán Hơi Thở (sổ tức Quán) :
Nghĩa là quán tưởng bằng cách chuyên chú đếm hơi thở ra vào để đối trị sự tán loạn của tâm thức” 45

MỤC V : VÀI NHẬN THỨC VỀ GIÁ TRỊ TỨ THÁNH ĐẾ
Tiết 1 : Nhận thức
Tứ đế là nguyên tắc thiết thực, nó chỉ đạo cho người biết sống, xây dựng đời sống minh triết cho mình. Khi nắm vững tòan bộ nội dung cuộc sống với bốn bề trên dưới trước sau, ta thấu ngộ vị trí giao điểm mà hướng tầm nhìn chánh kiến để thấy đường ta đi. Ta không còn dại khờ vào chờ đợi ngũ dục với mọi quảng cáo ấm êm tạm bợ mà bỏ mất cơ ngơi trí huệ lộng lẫy. Ta sống với tĩnh niệm ngời sáng muôn phần so với ngu tối trước kia. Ta không còn bị vướng vào lưới bẫy tà kiến giăng mắc khắp lối dương trần.
Truy tìm tới chỗ rốt cùng của đời sống, của thân phận mỗi chúng sanh, thấu biết nó là kết quả từ tâm lý ái thủ, vô minh mà ra. Hiện đời này, bao tâm lý ái thủ là tối quan trọng, là tâm lý bấu chặt gom về mọi thứ cho bản ngã ham hố. Từ đó đẻ ra ngã sở  ái, là cái mà ta ưa thích. Bản ngã là trung tâm, trụ sở cho mọi gom về ấy. Từ gom về bởi ái thủ quá mạnh nên những gì lọt khỏi tầm tay là gieo đau khổ cho ta, từ đó ta hành tác tạo nghiệp ác, siết chặt cổ mình vào thêm bao đau thương khổ lụy, thế nên khôn hồn là sau khi phân tích nguyên nhân, thấu biết được thì phải lập chí xuất ly. Là nỗ lực gỡ mình ra khỏi sự cuốn hút của thói quen từ vạn tỷ đời nay là sống xuôi theo tham đắm, theo khích động khủng khiếp của ngũ dục để rồi nó nhận chìm không xót thương ta vào cuộc tái sinh chịu roi vọt bi đá của mụ già vô minh tham ái mãi mãi.
            Đời sống cũ mòn ấy là đời sống mắc nợ, là đời sống thua lỗ, là đời sống đầy sự đen tối, bịnh hoạn thất bại. Giờ phút này tĩnh hồn sống với khẩu lệnh vô nhiễm, với xã ly, đoạn ái. Đó là tắc máy luân hồi.
Tiết II : Giá trị :
Trãi mấy nghìn năm, nhân loại từng bước tiến lên đài tri giác, mới lần hồi có được nội dung văn minh rực rỡ như hiện nay về những chuyến đi về Liên hành tinh nhân loại với hệ thống vệ tinh viễn thông quét qua bầu trời. Ngày nay con người có cái nghe, nhìn của họ được nối dài như phép thần thông. Trái đất trở nên bé xíu. Mặt trời là tổ quốc của thái dương hệ đang bị thăm dò. Nhìn tổng quát, nhân loại có tiến về mặt trí hiểu biết, nhưng về tâm tính nhân loại thì chưa tiến được bao nhiêu, mà con người bất cứ đâu cũng vẫn với những buồn thương, giận ghét, oán thù với nhịp lên xuống của tham đắm. Và bất cứ xã hội nào cũng không biết bao số phận hẩm hiu. Con người là chỗ mọc ra vấn đề, không bao giờ chấm dứt được với cảnh thiên đường hạ giới. Và trong hoàn cảnh của tình hình mới, văn minh mới con người lại còn vướng khổ khác về bệnh tật, thậm chí nguy hại như siđa. Và bao nỗi lo toan ngút trời khác. Vậy thì vấn đề giải trừ đau khổ vẫn còn phải được nói đến mãi mãi.
            Trong hoàn cảnh văn minh lộng lẫy vật chất này, Tứ Đế có phải là biểu thị cho một nền văn minh già cỗi, hủ lậu chăng ? Vấn đề này, nhiều người chưa có tầm suy tư chắc hạt, họ bảo : “Đạo Phật là gì mà cứ nói đến cái khổ, … ôi chán quá, đó là biểu thị cho nền văn minh già cỗi, hủ lậu” 46. Điều ấy có đúng chăng ? Đạo Phật đâu có cấm ai vui chơi giải trí thụ hưởng bình minh trên biển, hay chiều tà gió mát trời đất choàng minh mị êm đềm trong cảnh nên thơ. Cái khổ ở đây, nói cho cùng là sự bưng bít, không biết lối ra khỏi tái sinh bầm dập. Đạo Phật thiết thực chỉ ra hiện trạng dù ai có thể né tránh hiện trạng bi thương, vì bất lực như đà điểu vùi đầu vào cát, run sợ vì thấy sư tử đuổi mình. Đạo Phật lay tĩnh, làm cho ý chí con người hùng mạnh lên, dám đọ mình với sự thật để lãnh hội nó một cách thẳng thắn. Biết giá trị tối cao là đời sống hướng thượng đi lên với trí tĩnh táo, biết mình sống đây có giá trị gì ? Và đời sống của ta đâu phải lao qua dương trần ăn ngủ thỏa thích rồi chết là trọn gói tan hết. Không gì đáng nói. Nếu không có cái gì còn lại cao quí, thì đời ta không khác gì đời sống của động vật, tan rã như muôn đời cây cỏ ? Đạo Phật với sự giác ngộ cao thượng. Cái tối thượng ở chỗ là đã chỉ hướng cho con người từ chỗ tối tăm, rồi nhận biết và đem lại sự giải thoát tiến lên đời sống bất diệt.
            Như vậy Tứ  Đế trang bị đúng mức cho ta một thái độ nhận thức đến bờ khôn ngoan, không làm mất oan uổng giá trị một kiếp sống ngay đây. Kiếp sống hữu hạn này, với tấm thân này, thoát khỏi mọi khổ lụy hàng tỷ kiếp, thì đó là giá trị hiện thực không thể chối cãi. Đạo Phật chỉ ra biện pháp thực hiện cụ thể nhất, đúng nhất để ta tạo dựng lại đời sống cao quí ra đi từ chỗ chuyển hóa tâm hồn, có an lạc, có lòng thương thì đời mới vơi nỗi khổ được. Văn minh vật chất không hoàn toàn không tạo được hạnh phúc lâu bền.


CHƯƠNG III  : KẾT LUẬN
Tính chất cao ngời sáng tỏ của Pháp Tứ Đế chính là lần đầu tiên trong hàng ngàn năm, nội dung cuộc đời, giá trị kiếp sống nơi bản thân con người được đem ra đặt lên thảm xanh ý thức để truy tìm cội nguồn gây đau khổ, cội gốc đem lại đời sống an lạc. Đạo Phật trên căn bản là một phương pháp sống minh triết khôn ngoan, thế nên từ buổi khai pháp tịch, từ buổi bình minh chân lý được trao truyền với pháp Tứ Đế.
            Đức Phật đã nhằm thẳng vào hành tác cứu giúp con người. Điều ấy trong gần năm mươi năm khai hóa mọi tâm hồn cho những ai có cơ may gặp Ngài trong suốt lưu vực sông Hằng cảm nhận được từ lực. Cũng như thượng trí mà Ngài đã gieo rắc cho họ. Từ đó họ đạt được hạnh phúc Niết bàn chân thật nhất. Qua hơn 2551 năm lưu truyền đến sông nọ, núi kia, Đạo Phật vẫn trung thành mãi mãi với định thức như một khẩu lệnh sáng tỏ muôn đời là chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc cho ai nấy trong dương trần khi họ có khát khao tìm hiểu đâu là nẻo về, đâu là bến đò cuối cùng của chuyến đi buôn qua dương trần huyễn mộng này.
            Chỉ trong Đạo Phật mới có cái đặc biệt này là nói đến khả năng thành Phật của mọi con người, vì chỉ có Đạo Phật mới xác nhận lồng lộng lên rằng ai nấy đều có khả năng thành Phật nhờ nguồn hạt nhân của nó là ý chí, nguyên lực mà không loài nào có ngoài con người. Các Phật tu kiếp chót thành Phật thì cũng ở trong kiếp người này mà thành Phật. Điều đó nhằm tạo một tân khí tượng cho linh thức con người, có kẻ đã giác ngộ từ thân phận con người, ta có gương hành động ngay đây khiến tâm hồn ta khoáng đạt bay lên như cánh chim thần kích thích  rằng ta cũng có khả năng tuyệt quí ấy.
            Tứ Đế là nguyên tắc sống đời sống minh triết, điều ấy như ta lên tới đỉnh của núi cao, nhìn xuống đồng bằng thu mọi cảnh vào nhãn tuyến thấy biết hết mọi đường qua lối lại trong đồng bằng đời sống dương trần, không còn u mê hành tác mọi việc khiến mình mắc vướng lại trong bến cồn đau khổ nữa. Nguyên tắc luôn luôn là cái gì trên cao nhưng lại tối cần thiết, nó là trí khôn chỉ đường cho ta đi. Tạo thành hệ thống ý thức cho sự hoạt động mọi thứ của thân, khẩu, ý.
            Như thế, Tứ Thánh Đế rõ ràng được trình bày theo mối quan hệ nhân quả, trong phạm vi của mỗi nhóm với nhau cho thấy : Chân lý thứ nhất (chân lý khổ) là kết quả của chân lý thứ hai (chân lý về nguyên nhân), trong khi chân lý thứ ba (chân lý về chấm dứt khổ) là kết quả của chân lý cuối cùng (chân lý về Đạo). Bất cứ Pháp hữu vi nào, hay khổ đau nào có mặt cũng có nguyên nhân của nó, người tu tập nhận rõ nguyên nhân chính của khổ đau đó thì tất nhiên sẽ cùng lúc thấy rõ sự biến mất của nó và con đường (hay phương pháp) để loại bỏ nó, Đức Phật đã tuyên bố :
“Ai thấy khổ người ấy cũng thấy khổ tập, cũng thấy khổ diệt, cũng thấy con đường đưa đến khổ diệt”. 47
            Đức Phật nhiều lần lặp lại trong các kinh Nikàya và A Hàm rằng : “Từ trước đến nay Như  Lai chỉ dạy một điều duy nhất là khổ và sự diệt khổ” 48 . Đối với Đức Phật thì toàn bộ lời dạy của Ngài chỉ nhằm để hiểu về Dukkha, tính chất bất toại nguyện của mọi hiện hữu duyên sanh và hiểu con đường thoát khỏi tình trạng bất toại nguyện này.
            Điều này còn mang ý nghĩa toàn bộ giáo lý đều được quy vào, thu vào Tứ Thánh Đế. Tương tự, Tôn Giả Xá Lợi Phất đã tuyên bố : “Ví như tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều bị nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này lớn nhất trong tất cả dấu chân, cũng vậy, chư hiền giả, tất cả thiên pháp đều tập trung trong Tứ Thánh Đế.
            Tứ Thánh Đế là giáo lý căn bản của Đạo Phật, không phải riêng đối với tiểu thừa mà chung cho cả Đại thừa nữa. Người tu hành muốn có một kết quả chắc chắn, không thể bỏ qua Tứ Thánh Đế được.
            Mong rằng rồi đây khi đối diện với những hiện tượng khổ đau trong đời sống bình nhật sanh, già, bệnh, chết, thương yêu xa lìa, thù ghét gặp gỡ, sầu bi, thất vọng, tuyệt vọng v..v… Chúng ta sẽ không còn sợ hãi, bi ai, mà trái lại chúng ta biết bình tâm dùng chánh kiến tìm ra nguyên nhân, chủ động tu tập để có thể dứt trừ tận gốc mọi khổ đau. Như thế Đức Phật Thích Ca đã làm đầy đủ nhiệm vụ của kẻ dẫn đường cho chúng ta đi từ cõi đời đen tối đến quả vị A – La – Hán. Ngài đã đặt vào tay chúng ta một bản đồ chỉ dẫn rõ ràng về cuộc hành trình và ban cho chúng ta đầy đủ phương tiện cần thiết trong chuyến đi vĩ  đại ấy. Chúng ta chỉ còn lên đường và bước tới.